Thứ Bảy, 30 tháng 6, 2012

VỖ MÔNG CHỌN NGƯỜI TÌNH

Dùng ánh mắt làm hiệu đưa tình. Nếu cô gái có ý chấp thuận thì bỏ chạy; chàng trai rượt đuổi theo và đưa bàn tay... vỗ vào mông.

Người Mông tập trung ở miền núi vùng cao thuộc các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng, Nghệ An. Hôn nhân của họ vẫn theo tập quán tự do kén chọn bạn đời. Những người cùng dòng họ không lấy nhau. Người Mông có tục "háy pù", tức là trong trường hợp trai gái yêu nhau, cha mẹ thuận tình nhưng kinh tế khó khăn, thì hò hẹn nhau tại một địa điểm. Từ địa điểm đó, chàng trai dắt tay cô gái về làm vợ. Vợ chồng người Mông rất ít bỏ nhau, họ sống với nhau hòa thuận, cùng làm ăn, cùng lên nương, xuống chợ và đi hội hè... 

Những cô gái Mông. Ảnh minh họa

Khác với chuẩn đẹp của người Kinh, chuẩn người Mông chọn phụ nữ là dáng to khoẻ, bắp chân săn vồng lên trong cạp bít tất, đôi mông to mẩy vồng nhún nhảy lên trong váy áo mỗi bước đi. Những cô đó vừa chăm chỉ biết làm nương, xe sợi vừa mắn đẻ, khéo nuôi con. Ngắm được cô gái ưng ý, chàng trai chạy lại vỗ mấy cái vào... mông. Vì thế mới nói, tập tục vỗ mông để chọn bạn đời có từ rất lâu đời và vốn là một nét đẹp văn hoá của người Mông. 

Sáng đầu năm, nam thanh nữ tú nhất loại về tụ tập ở khoảng sân diễn tục chơi "ú tim". Sau những chén rượu chúc tụng cho một năm mới tốt lành, họ đưa mắt tìm bạn đời. Khi đã có đối tượng, dùng ánh mắt làm hiệu đưa tình và nếu cô gái có ý chấp thuận thì cô bỏ chạy. Chỉ chờ có thế, chàng trai rượt đuổi theo ngay. Ai cũng gắng chạy hết khả năng. Khi chàng trai đuổi kịp cô gái và đưa bàn tay vỗ vào mông cô một cái, cô gái phải chịu khuất phục ngay. Và họ chỉ chờ đến ngày cưới hỏi, để nên duyên vợ chồng.

Xưa, sau khi vỗ mông, chàng trai dắt vợ lên lưng ngựa, dong thẳng về nhà mình, nhốt vào trong buồng, cắt tiết gà, cúng ma, 3 ngày mới dắt về nhà gái. Lúc này, cô gái như con bò đã đóng ách, như chùm hoa mơ, hoa mận đã có người hái, nhà gái đành phải nhượng bộ, cho cưới mà không thách cao, thậm chí là không dám thách. Thế nhưng, bây giờ, vỗ mông chọn vợ đã có nhiều đổi thay. Trước khi bắt vợ, chàng trai Mông nào biết "ga lăng" thường tặng một đôi dép, hay một cái khăn, cái gương con con cho người con gái mình thích để dẫn dụ cảm tình. Lúc vỗ mông xong thì đi xe máy hoặc đi bộ về nhà trai. 

Người Mông còn có tục kéo con gái về làm vợ.

Người Mông còn có tục kéo con gái về làm vợ (cuớp vợ). Khi người con trai quen biết một người con gái và muốn cô gái đó làm vợ, họ sẽ đi kéo cô gái về nhà. Để kéo được cô gái về nhà, người con trai phải chiêu đãi, mời rượu một số người bạn cùng lứa tuổi để họ đi kéo giúp. Chàng trai và bạn bè của anh có thể tìm cô gái ở chợ, ở đêm chơi trăng hay lúc đi làm nương. Sau đó, chàng trai sẽ phải nhờ mẹ, chị gái hoặc em gái trông không cho cô gái trốn khỏi nhà mình trong ba ngày đêm.

Cô gái sẽ được ở riêng một phòng. Trong thời gian này, chàng trai không được gặp cô gái, mọi chuyện liên quan đến việc thuyết phục cô gái về làm vợ phải nhờ người thân. Nếu cô gái đồng ý mặc bộ váy áo do người nhà chàng trai đưa, đồng nghĩa là chấp nhận lấy chàng trai làm chồng. Lúc đó, gia đình chàng trai sẽ nhờ người làm mối đến nhà cô gái bàn chuyện cưới xin và chuẩn bị các lễ vật cần thiết theo lễ thách cưới của nhà gái. Cô gái sẽ được làm vía, cúng ma nhà chàng trai. Nếu cô gái nhất quyết không chịu mặc váy áo, nghĩa là không đồng ý, khi đó chàng trai sẽ phải đưa cô gái về trả cho bố mẹ, cùng với lễ vật bao gồm một con lợn, một con gà và một vò rượu cần. 

Đọc thêm tại: 

TOÀN VĂN LUẬT BIỂN VIỆT NAM

Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII tại phiên họp cuối ngày 21-6-2012 của kỳ họp thứ ba đã bỏ phiếu thông qua Luật Biển với số phiếu tán thành là 495/496.

Luật Biển Việt Nam có bảy chương, 55 điều với việc xác định chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa…được ghi ngay trong điều 1. Luật Biển bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1-1-2013.

Đây là một sự kiện lớn, một tin vui lớn, đáp ứng những đòi hỏi của tình hình phát triển đất nước hiện nay, thỏa mãn tinh thần yêu nước của nhân dân ta. Luật Biển là một văn kiện pháp lý vô cùng quan trọng và cần thiết của đất nước ta để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với vùng biển quốc gia, tạo cơ sở và hành lang pháp lý cao nhất cho mọi công việc sử dụng, khai thác và bảo vệ vùng biển nước nhà.

Những nội dung chính của Luật Biển Việt Nam

Luật Biển Việt Nam gồm có bảy chương, 55 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2013.

Chương 1 gồm các quy định chung về phạm vi điều chỉnh, định nghĩa.

Chương 2 quy định về vùng biển Việt Nam với các quy định về đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, đảo, quần đảo…

Chương 3 quy định về hoạt động trong vùng biển Việt Nam, trong đó có các quy định: đi qua không gây hại trong lãnh hải, tuyến hàng hải và phân luồng giao thông trong lãnh hải phục vụ cho việc đi qua không gây hại, vùng cấm và khu vực hạn chế hoạt động trong lãnh hải, tàu quân sự và tàu thuyền công vụ của nước ngoài đến Việt Nam, trách nhiệm của tàu quân sự và tàu thuyền công vụ của nước ngoài trong vùng biển Việt Nam, hoạt động của tàu ngầm và các phương tiện đi ngầm khác của nước ngoài trong nội thủy, lãnh hải Việt Nam, quyền tài phán hình sự và dân sự đối với tàu thuyền nước ngoài, quyền truy đuổi tàu thuyền nước ngoài…

Chương 4 của Luật Biển Việt Nam dành cho phát triển kinh tế biển, với các điều khoản về nguyên tắc phát triển kinh tế biển, các ngành kinh tế biển, quy hoạch phát triển kinh tế biển, xây dựng và phát triển kinh tế biển, khuyến khích, ưu đãi đầu tư phát triển kinh tế trên các đảo và hoạt động trên biển.

Chương 5 của Luật quy định về tuần tra, kiểm soát trên biển với các điều khoản về lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển, nhiệm vụ và phạm vi trách nhiệm tuần tra, kiểm soát trên biển, cờ, sắc phục và phù hiệu.

Chương 6 quy định về xử lý vi phạm. Chương này bao gồm các điều khoản về dẫn giải và địa điểm xử lý vi phạm, biện pháp ngăn chặn, thông báo cho Bộ Ngoại giao và xử lý vi phạm.

Chương 7 quy định về điều khoản thi hành.

_____________


LUẬT BIỂN VIỆT NAM

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;

Quốc hội ban hành Luật biển Việt Nam.

CHƯƠNG I: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các đảo, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và quần đảo khác thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam; hoạt động trong vùng biển Việt Nam; phát triển kinh tế biển; quản lý và bảo vệ biển, đảo.

Điều 2. Áp dụng pháp luật

1. Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Luật này với quy định của luật khác về chủ quyền, chế độ pháp lý của vùng biển Việt Nam thì áp dụng quy định của Luật này.

2. Trường hợp quy định của Luật này khác với quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Vùng biển Việt Nam bao gồm nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam, được xác định theo pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế về biên giới lãnh thổ mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982.

2. Vùng biển quốc tế là tất cả các vùng biển nằm ngoài vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và các quốc gia khác, nhưng không bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển.

3. Tàu thuyền là phương tiện hoạt động trên mặt nước hoặc dưới mặt nước bao gồm tàu, thuyền và các phương tiện khác có động cơ hoặc không có động cơ.

4. Tàu quân sự là tàu thuyền thuộc lực lượng vũ trang của một quốc gia và mang dấu hiệu bên ngoài thể hiện rõ quốc tịch của quốc gia đó, do một sĩ quan hải quân phục vụ quốc gia đó chỉ huy, người chỉ huy này có tên trong danh sách sĩ quan hay trong một tài liệu tương đương; được điều hành bởi thuỷ thủ đoàn hoạt động theo các điều lệnh kỷ luật quân sự.

5. Tàu thuyền công vụ là tàu thuyền chuyên dùng để thực hiện các công vụ của Nhà nước không vì mục đích thương mại.

6. Tài nguyên bao gồm tài nguyên sinh vật và tài nguyên phi sinh vật thuộc khối nước, đáy và lòng đất dưới đáy biển.

7. Đường đẳng sâu là đường nối liền các điểm có cùng độ sâu ở biển.

Điều 4. Nguyên tắc quản lý và bảo vệ biển

1. Quản lý và bảo vệ biển được thực hiện thống nhất theo quy định của pháp luật Việt Nam, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và các điều ước quốc tế khác mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

2. Các cơ quan, tổ chức và mọi công dân Việt Nam có trách nhiệm bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo và quần đảo, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển.

3. Nhà nước giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển, đảo với các nước khác bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, pháp luật và thực tiễn quốc tế.

Điều 5. Chính sách quản lý và bảo vệ biển

1. Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và thực hiện các biện pháp cần thiết bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo và quần đảo, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, phát triển kinh tế biển.

2. Xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch quản lý, sử dụng, khai thác, bảo vệ các vùng biển, đảo và quần đảo một cách bền vững phục vụ mục tiêu xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh.

3. Khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư lao động, vật tư, tiền vốn và áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ vào việc sử dụng, khai thác, phát triển kinh tế biển, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, phát triển bền vững các vùng biển phù hợp với điều kiện của từng vùng biển và bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh; tăng cường thông tin, phổ biến về tiềm năng, chính sách, pháp luật về biển.

4. Khuyến khích và bảo vệ hoạt động thủy sản của ngư dân trên các vùng biển, bảo hộ hoạt động của tổ chức, công dân Việt Nam ngoài các vùng biển Việt Nam phù hợp với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, pháp luật quốc tế, pháp luật của quốc gia ven biển có liên quan.

5. Đầu tư bảo đảm hoạt động của các lực lượng làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên biển, nâng cấp cơ sở hậu cần phục vụ cho các hoạt động trên biển, đảo và quần đảo, phát triển nguồn nhân lực biển.

6. Thực hiện các chính sách ưu tiên đối với nhân dân sinh sống trên các đảo và quần đảo; chế độ ưu đãi đối với các lực lượng tham gia quản lý và bảo vệ các vùng biển, đảo và quần đảo.

Điều 6. Hợp tác quốc tế về biển

1. Nhà nước đẩy mạnh hợp tác quốc tế về biển với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên cơ sở pháp luật quốc tế, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng, các bên cùng có lợi.

2. Nội dung hợp tác quốc tế về biển bao gồm:

a) Điều tra, nghiên cứu biển, đại dương; ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ;

b) Ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống và cảnh báo thiên tai;

c) Bảo vệ đa dạng sinh học biển, hệ sinh thái biển;

d) Phòng chống ô nhiễm môi trường biển, xử lý chất thải từ hoạt động kinh tế biển, ứng phó sự cố tràn dầu;

đ) Tìm kiếm, cứu nạn trên biển;

e) Phòng, chống tội phạm trên biển;

g) Khai thác bền vững tài nguyên biển, phát triển du lịch biển.

Điều 7. Quản lý nhà nước về biển

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về biển trong phạm vi cả nước.

2. Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố ven biển trực thuộc trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về biển.

CHƯƠNG II: VÙNG BIỂN VIỆT NAM

Điều 8. Xác định đường cơ sở 

Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam là đường cơ sở thẳng đã được Chính phủ công bố. Chính phủ xác định và công bố đường cơ sở ở những khu vực chưa có đường cơ sở sau khi được Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn. 

Điều 9. Nội thuỷ 

Nội thủy là vùng nước tiếp giáp với bờ biển, ở phía trong đường cơ sở và là bộ phận lãnh thổ của Việt Nam. 

Điều 10. Chế độ pháp lý của nội thuỷ 

Nhà nước thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ đối với nội thủy như trên lãnh thổ đất liền. 

Điều 11. Lãnh hải 

Lãnh hải là vùng biển có chiều rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở ra phía biển. 

Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam. 

Điều 12. Chế độ pháp lý của lãnh hải 

1. Nhà nước thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải và vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982. 

2. Tàu thuyền của tất cả các quốc gia được hưởng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam. Đối với tàu quân sự nước ngoài khi thực hiện quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam, thông báo trước cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. 

3. Việc đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài phải được thực hiện trên cơ sở tôn trọng hòa bình, độc lập, chủ quyền, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. 

4. Các phương tiện bay nước ngoài không được vào vùng trời ở trên lãnh hải Việt Nam, trừ trường hợp được sự đồng ý của Chính phủ Việt Nam hoặc thực hiện theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. 

5. Nhà nước có chủ quyền đối với mọi loại hiện vật khảo cổ, lịch sử trong lãnh hải Việt Nam. 

Điều 13. Vùng tiếp giáp lãnh hải 

Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, có chiều rộng 12 hải lý tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải. 

Điều 14. Chế độ pháp lý của vùng tiếp giáp lãnh hải 

1. Nhà nước thực hiện quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và các quyền khác quy định tại Điều 16 của Luật này đối với vùng tiếp giáp lãnh hải. 

2. Nhà nước thực hiện kiểm soát trong vùng tiếp giáp lãnh hải nhằm ngăn ngừa và trừng trị hành vi vi phạm pháp luật về hải quan, thuế, y tế, xuất nhập cảnh xảy ra trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam. 

Điều 15. Vùng đặc quyền kinh tế 

Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, hợp với lãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở. 

Điều 16. Chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế 

1. Trong vùng đặc quyền kinh tế, Nhà nước thực hiện: 

a) Quyền chủ quyền về việc thăm dò, khai thác, quản lý và bảo tồn tài nguyên thuộc vùng nước bên trên đáy biển, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển; về các hoạt động khác nhằm thăm dò, khai thác vùng này vì mục đích kinh tế; 

b) Quyền tài phán quốc gia về lắp đặt và sử dụng đảo nhân tạo, thiết bị và công trình trên biển; nghiên cứu khoa học biển, bảo vệ và gìn giữ môi trường biển; 

c) Các quyền và nghĩa vụ khác phù hợp với pháp luật quốc tế. 

2. Nhà nước tôn trọng quyền tự do hàng hải, hàng không; quyền đặt dây cáp, ống dẫn ngầm và hoạt động sử dụng biển hợp pháp của các quốc gia khác trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam theo quy định của Luật này và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, không làm phương hại đến quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và lợi ích quốc gia trên biển của Việt Nam. 

Việc lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm phải có sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam. 

3. Tổ chức, cá nhân nước ngoài được tham gia thăm dò, sử dụng, khai thác tài nguyên, nghiên cứu khoa học, lắp đặt các thiết bị và công trình trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trên cơ sở các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, hợp đồng được ký kết theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc được phép của Chính phủ Việt Nam, phù hợp với pháp luật quốc tế có liên quan. 

4. Các quyền có liên quan đến đáy biển và lòng đất dưới đáy biển quy định tại Điều này được thực hiện theo quy định tại Điều 17 và Điều 18 của Luật này. 

Điều 17. Thềm lục địa 

Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền, các đảo và quần đảo của Việt Nam cho đến mép ngoài của rìa lục địa. 

Trong trường hợp mép ngoài của rìa lục địa này cách đường cơ sở chưa đủ 200 hải lý thì thềm lục địa nơi đó được kéo dài đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở. 

Trong trường hợp mép ngoài của rìa lục địa này vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở thì thềm lục địa nơi đó được kéo dài không quá 350 hải lýtính từ đường cơ sở hoặc không quá 100 hải lý tính từ đường đẳng sâu 2.500 mét. 

Điều 18. Chế độ pháp lý của thềm lục địa 

1. Nhà nước thực hiện quyền chủ quyền đối với thềm lục địa về thăm dò, khai thác tài nguyên. 

2. Quyền chủ quyền quy định tại khoản 1 Điều này có tính chất đặc quyền, không ai có quyền tiến hành hoạt động thăm dò thềm lục địa hoặc khai thác tài nguyên của thềm lục địa nếu không có sự đồng ý của Chính phủ Việt Nam. 

3. Nhà nước có quyền khai thác lòng đất dưới đáy biển, cho phép và quy định việc khoan nhằm bất kỳ mục đích nào ở thềm lục địa. 

4. Nhà nước tôn trọng quyền đặt dây cáp, ống dẫn ngầm và hoạt động sử dụng biển hợp pháp khác của các quốc gia khác ở thềm lục địa Việt Nam theo quy định của Luật này và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, không làm phương hại đến quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và lợi ích quốc gia trên biển của Việt Nam. 

Việc lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm phải có sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam. 

5. Tổ chức, cá nhân nước ngoài được tham gia thăm dò, sử dụng, khai thác tài nguyên, nghiên cứu khoa học, lắp đặt thiết bị và công trình ở thềm lục địa của Việt Nam trên cơ sở điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, hợp đồng ký kết theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc được phép của Chính phủ Việt Nam, phù hợp với pháp luật quốc tế có liên quan. 

Điều 19. Đảo, quần đảo 

1. Đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước. 

Quần đảo là một tập hợp các đảo, bao gồm cả bộ phận của các đảo, vùng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan chặt chẽ với nhau. 

2. Đảo, quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam. 

Điều 20. Nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của đảo, quần đảo 

1. Đảo thích hợp cho đời sống con người hoặc cho một đời sống kinh tế riêng thì có nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. 

2. Đảo đá không thích hợp cho đời sống con người hoặc cho một đời sống kinh tế riêng thì không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. 

3. Nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các đảo, quần đảo được xác định theo quy định tại các điều 9, 11, 13, 15 và 17 của Luật này và được thể hiện bằng hải đồ, bản kê toạ độ địa lý do Chính phủ công bố. 

Điều 21. Chế độ pháp lý của đảo, quần đảo 

1. Nhà nước thực hiện chủ quyền trên đảo, quần đảo của Việt Nam. 

2. Chế độ pháp lý đối với vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các đảo, quần đảo được thực hiện theo quy định tại các điều 10, 12, 14, 16 và 18 của Luật này. 

CHƯƠNG III: HOẠT ĐỘNG TRONG VÙNG BIỂN VIỆT NAM

Điều 22. Quy định chung 

1. Tổ chức, cá nhân hoạt động trong vùng biển Việt Nam phải tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và lợi ích quốc gia của Việt Nam, tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế có liên quan. 

2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của tàu thuyền, tổ chức, cá nhân hoạt động trong vùng biển Việt Nam phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế có liên quan. 

Điều 23. Đi qua không gây hại trong lãnh hải 

1. Đi qua lãnh hải là việc tàu thuyền nước ngoài đi trong lãnh hải Việt Nam nhằm một trong các mục đích sau: 

a) Đi ngang qua nhưng không đi vào nội thủy Việt Nam, không neo đậu lại trong một công trình cảng, bến hay nơi trú đậu ở bên ngoài nội thủy Việt Nam; 

b) Đi vào hoặc rời khỏi nội thủy Việt Nam hay đậu lại hoặc rời khỏi một công trình cảng, bến hay nơi trú đậu ở bên ngoài nội thủy Việt Nam. 

2. Việc đi qua lãnh hải phải liên tục và nhanh chóng, trừ trường hợp gặp sự cố hàng hải, sự cố bất khả kháng, gặp nạn hoặc vì mục đích phải cứu giúp người, tàu thuyền hay tàu bay đang gặp nạn. 
3. Việc đi qua không gây hại trong lãnh hải không được làm phương hại đến hòa bình, quốc phòng, an ninh của Việt Nam, trật tự an toàn trên biển. Việc đi qua của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải Việt Nam bị coi là gây phương hại đến hòa bình, quốc phòng, an ninh của Việt Nam, trật tự an toàn xã hội nếu tàu thuyền đó tiến hành bất kỳ một hành vi nào sau đây: 

a) Đe dọa hoặc sử dụng vũ lực chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; 

b) Đe dọa hoặc sử dụng vũ lực chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia khác; thực hiện các hành vi trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế được quy định trong Hiến chương Liên hợp quốc; 

c) Luyện tập hay diễn tập với bất kỳ kiểu, loại vũ khí nào, dưới bất kỳ hình thức nào; 

d) Thu thập thông tin gây thiệt hại cho quốc phòng, an ninh của Việt Nam; 

đ) Tuyên truyền nhằm gây hại đến quốc phòng, an ninh của Việt Nam; 

e) Phóng đi, tiếp nhận hay xếp phương tiện bay lên tàu thuyền; 

g) Phóng đi, tiếp nhận hay xếp phương tiện quân sự lên tàu thuyền; 

h) Bốc, dỡ hàng hóa, tiền bạc hay đưa người lên xuống tàu thuyền trái với quy định của pháp luật Việt Nam về hải quan, thuế, y tế hoặc xuất nhập cảnh; 

i) Cố ý gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường biển; 

k) Đánh bắt hải sản trái phép; 

l) Nghiên cứu, điều tra, thăm dò trái phép; 

m) Làm ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống thông tin liên lạc hoặc của thiết bị hay công trình khác của Việt Nam; 

n) Tiến hành hoạt động khác không trực tiếp liên quan đến việc đi qua. 

Điều 24. Nghĩa vụ khi thực hiện quyền đi qua không gây hại 

1. Khi thực hiện quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có nghĩa vụ tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam về nội dung sau đây: 

a) An toàn hàng hải và điều phối giao thông đường biển, tuyến hàng hải và phân luồng giao thông; 

b) Bảo vệ thiết bị và hệ thống bảo đảm hàng hải, thiết bị hay công trình khác; 

c) Bảo vệ đường dây cáp và ống dẫn; 

Học giả Trung Quốc khẳng định đường chữ U không có căn cứ pháp lý

Tham vọng của Trung Quốc muốn biến Biển Đông thành cái “ao nhà” của mình đã gây ra những căng thẳng giữa họ với 5 nước ASEAN, trong đó có Việt Nam. Cái gọi là Đường chữ U do họ đưa ra nhằm để Trung Quốc chiếm tới 80% tổng diện tích Biển Đông, đang bị tất cả những người có lương tri trên thế giới phản đối kịch liệt.

Hàng nghìn đảo đá, bãi cạn ở gần các nước ASEAN và ở rất xa đại lục Trung Quốc, xưa nay chưa hề có người Trung Quốc sinh sống, chưa hề có sự kiểm soát của chính quyền Trung Quốc cũng bị họ ngang nhiên coi là lãnh thổ của mình. Đường chữ U lấn vào vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của nhiều nước khác và hoàn toàn không có căn cứ lịch sử cũng như căn cứ pháp lý — điều hết sức vô lý ấy ai cũng thấy, kể cả những người Trung Quốc có lương tri. Bài viết dưới đây nói lên một phần sự thật mà chính quyền Trung Quốc luôn giấu giếm: các học giả có lý trí ở nước họ cũng công khai thừa nhận Đường chữ U không có căn cứ pháp lý. Để tôn trọng sự thật, tôn trọng tác giả bài viết và bạn đọc, chúng tôi xin dịch nguyên văn bài này. Các ghi chú trong ngoặc vuông [ ] là của người dịch. 

Ngày 14/6/2012, chủ nhân Blog này [tức Lý Lệnh Hoa] được mời tham gia cuộc hội thảo về vấn đề Nam Hải [Việt Nam gọi là Biển Đông] do Viện Nghiên cứu Kinh tế Thiên Tắc 天则经济研究所 [1] và báo điện tử Sina.com/blog chủ trì tổ chức. Những người tham gia đều đã thảo luận vấn đề này một cách nghiêm túc và có lý trí. Qua chỉnh lý, nay công bố nội dung hội thảo như sau.

Tên Hội thảo: Tranh chấp Biển Đông: chủ quyền quốc gia và quy tắc quốc tế.

Đơn vị chủ trì: Viện Nghiên cứu Kinh tế Thiên Tắc và báo điện tử Sina.com /blog.

Thời gian: Chiều ngày 14/6/2012, từ 13h30 đến 17h50.

Địa điểm: Viện Nghiên cứu Kinh tế Thiên Tắc

Người chủ trì: Dương Tuấn Phong, giảng viên Đại học Công an Trung Quốc.

Khách mời phát biểu chính: 

1- Lý Lệnh Hoa [李令华Li Ling-hua] [2], học giả chuyên nghiên cứu vấn đề vạch ranh giới biển quốc tế, cán bộ đã nghỉ hưu của Trung tâm Thông tin biển Trung Quốc.

2- Thời Ân Hoằng, Giáo sư Đại học Nhân dân Trung Quốc, Tham sự Quốc vụ viện [3].

Khách mời bình luận:

1- Thịnh Hồng, Giám đốc Viện Nghiên cứu Thiên Tắc, GS Đại học Sơn Đông; 2- Thượng Hội Bằng GS Học viện Quan hệ quốc tế thuộc Đại học Bắc Kinh ; 3- Cát Hải Đình, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu xúc tiến hữu nghị quốc tế Trung Quốc, nghiên cứu viên ; 4- Hà Quang Hộ, GS Viện Triết học ĐH Nhân dân Trung Quốc ; 5- Vương Diệm, nghiên cứu viên Viện Khoa học xã hội Trung Quốc, Tổng Biên tập tạp chí « Đọc sách » ; 6- Hứa Chương Nhuận, GS Học viện Pháp luật ĐH Thanh Hoa ; 7-Trương Thiên Phàm, GS thỉnh giảng của hai Học viện Pháp luật, Học viện Quản lý chính phủ ĐH Bắc Kinh ; 8- Trương Thử Quang, Chủ tịch Hội đồng Học thuật Viện NCKT Thiên Tắc, GS Viện Khoa học xã hội Trung Quốc.

Lý Lệnh Hoa : Với tư cách là học giả đã nghiên cứu nhiều năm vấn đề vạch ranh giới biển quốc tế, hôm nay tôi rất vui mừng được cùng mọi người bàn bạc vấn đề Nam Hải. Tôi có mang tới đây để mọi người xem một số thành quả nghiên cứu mới nhất của giới học thuật về vấn đề Nam Hải, gồm các sách và tạp chí như « Nghiên cứu vấn đề Luật biển quốc tế », « Nghiên cứu luật cơ bản biển Trung Quốc », « Một số trường hợp thực hiện luật quốc tế của Trung Quốc », « Tập bài nghiên cứu quốc sách biển », « Địa-chính trị và tranh chấp ở Nam Hải », « Chuyên luận vấn đề Nam Hải » ; khi nói về vấn đề Nam Hải, tôi rất chú ý quan điểm của các tác giả những nghiên cứu đó.

Tôi có cảm giác là từ hơn một năm nay, đặc biệt từ tháng 4 năm nay trở đi, khi Trung Quốc xung đột với Philippinnes, vấn đề Nam Hải trở nên rất nóng. Tôi cảm thấy trên vấn đề chủ quyền lãnh thổ quốc gia, từ xưa tới nay [chúng ta] đều khẳng định đảo Hoàng Nham [黄岩岛 quốc tế gọi là bãi cạn Scarborough] là lãnh thổ của Trung Quốc. Nhưng diện tích đảo Hoàng Nham quá nhỏ, hơn nữa lại không có người ở, khi thủy triều dâng cao chỉ còn là một tảng đá. Năm 1947, khi vẽ “Đường 11 đoạn ” 十一段线, Vụ trưởng Vụ Khu vực và mấy người trong Bộ Nội chính chính phủ Dân Quốc [của Tổng thống Tưởng Giới Thạch] vẽ đảo này vào [bên trong đường 11 đoạn]. Khi nghiên cứu xác định điểm gốc [cơ điểm] để [phục vụ công tác] dẫn đường trên biển, đã bàn bạc về vấn đề đảo Hoàng Nham này động chạm tới việc không thể lấy nó làm điểm gốc. Vì diện tích nó quá nhỏ lại cách xa đại lục [Trung Quốc], hơn nữa còn có một vấn đề phức tạp là đảo Hoàng Nham nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Philippines, có thể lấy nó làm điểm gốc để chủ trương [coi nó là] vùng đặc quyền kinh tế của chúng ta được không ? — vấn đề này rất đáng được bàn thảo. Bởi vậy [khi] Bộ Ngoại giao và phía quân đội [Trung Quốc] có lúc rất cứng rắn trên vấn đề này, tôi cảm thấy [làm như thế] là xem xét vấn đề chưa chu toàn. Tôi đã viết rất nhiều thư gửi cho các cán bộ liên quan của Bộ Ngoại giao [Trung Quốc] nhưng cũng không có thư trả lời. Vì đảo Hoàng Nham là một bãi đá 岩礁, căn cứ mục 3 Điều 121 của «Công ước [Liên Hợp Quốc về Luật Biển]», nó chỉ có thể có vùng nước xung quanh 12 hải lý mà thôi. Nó ở cách bờ biển Phillippines 124 hải lý, vẽ một vòng khuyên thì vị trí sở tại đảo này vẫn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Phillippines ; tàu cá đi vào đấy tất nhiên là đi vào vùng đặc quyền kinh tế của Phillippines rồi. Bởi vậy xảy ra tranh chấp trên vấn đề này là điều tất nhiên.

Hiện nay nhiều học giả trong nước [Trung Quốc] vẫn khẳng định «Đường 9 đoạn» [九段线Việt Nam gọi là Đường chữ U, hay Đường Lưỡi bò, tức đường biên giới biển Đông theo yêu sách của Trung Quốc, được họ vẽ trên bản đồ bằng một đường có 9 đoạn đứt khúc]; nhưng từ xưa đến nay đường biên giới trên bộ hay trên biển của toàn thế giới chưa bao giờ có một đường nào là đường đứt đoạn [chữ Hán là 虚线 «hư tuyến», tức đường nét đứt, đường chấm chấm, không liền nét] cả. Đường 9 đoạn do tiền nhân của chúng ta vạch ra không có kinh độ, vĩ độ cụ thể, cũng chẳng có căn cứ pháp lý. Tháng trước, khi giảng bài cho các nghiên cứu sinh ở Viện Nghiên cứu biển và biên giới Trung Quốc thuộc trường Đại học Vũ Hán, tôi có nói rằng căn cứ pháp luật đích thực phải là “Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển” năm 1982 [United Nations Convention on the Law of the Sea; 1982年《联合国海洋法公约]. Hơn nữa nước ta [Trung Quốc] là quốc gia đã ký và phê chuẩn “Công ước” này. Đường 9 đoạn chiếm tới hơn 80% diện tích vùng nước Nam Hải.

Đường cơ bản [cơ tuyến] của quần đảo Tây Sa [西沙, Việt Nam gọi là Hoàng Sa] cấu tạo bởi 28 điểm gốc, được các chuyên gia Cục Hải dương và một số đơn vị khác [của Trung Quốc] cùng nhau vẽ nên trước năm 1995. Nó gồm có nhiều bãi đá nhỏ 小岩礁, với diện tích vùng nước rộng tới khoảng hơn 12.000 dặm biển vuông. Sau khi công bố đã bị các chính phủ Việt Nam và Philippinnes phản đối và phê bình. Việc xác định 28 điểm gốc này vốn đã có rất nhiều chỗ không chuẩn xác, cũng không đạt yêu cầu về chỉ tiêu kỹ thuật. Hiện nay [Trung Quốc] vẫn cứ muốn làm kiểu hoạch định mập mờ như thế ở quần đảo Nam Sa [南沙 Việt Nam gọi là Trường Sa].

Tài nguyên Nam Hải rất phong phú, nước ta [Trung Quốc] có tranh chấp với 5 quốc gia như Việt Nam, Philippinnes [và Malaysia, Brunei, Indonesia] về chủ quyền trên biển. Chúng ta nên chủ trương giải quyết tranh chấp bằng phương pháp đàm phán hoà bình theo tinh thần của « Công ước », không thể sử dụng vũ lực giải quyết. Căn cứ xu thế phát triển của Luật biển quốc tế hiện nay và kinh nghiệm thực tiễn của các quốc gia, các nước ven bờ Nam Hải trước hết nên hoạch định vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và biên giới thềm lục địa大陆架. Sau khi xác định rõ biên giới, [các nước] sẽ cùng nhau khai thác [tài nguyên biển].

Xin nêu một thí dụ : không thể xỏ giày trước rồi mới đi tất, cũng tức là nói không thể không làm rõ phạm vị chủ quyền trên biển mà đã cùng khai thác, bởi lẽ như vậy hoàn toàn có khả năng gây ra vấn đề phân phối thu nhập không công bằng. Sau này dựa vào điều 74 và điều 83 nói về vùng đặc quyền kinh tế và hoạch định biên giới thềm lục địa trong « Công ước », cần vạch lại biên giới biển Nam Hải. [Lúc đó] Phillippines chiếm bao nhiêu, Brunei chiếm bao nhiêu, Việt Nam chiếm bao nhiêu, Indonesia chiếm bao nhiêu… khẳng định sẽ không thể hoạch định theo chủ trương hiện nay của các quốc gia này.

Các quốc gia đương sự phải thống nhất về lý luận vạch biên giới biển và về phương pháp kỹ thuật, lấy cơ sở là các nguyên tắc quốc tế thông dụng hiện nay về cấu hình và độ dài bờ biển cũng như nguyên tắc tỷ lệ, thông qua đàm phán hoà bình, hữu nghị song phương hoặc đa phương để giải quyết vấn đề biên giới cuối cùng của Nam Hải.

Thịnh Hồng : Đường màu lam có phải là đường vẽ [vùng đặc quyền kinh tế] 200 hải lý của các nước không?

Lý Lệnh Hoa : Đúng vậy. Đường màu lam trên bản đồ là vùng đặc quyền kinh tế vẽ theo Luật Biển. Đảo Hoàng Nham ở đây. Theo mục 3, Điều 121 của « Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển », Trung Quốc chúng ta chỉ có thể có vùng biển lãnh hải 12 hải lý. Thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Philippinnes ở đây. cho nên dù tàu cá hay tàu chiến của chúng ta khi đến Hoàng Nham đều tất nhiên đi vào vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của người ta. “Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển” đã là công ước thì bất cứ quốc gia nào cũng phải chịu sự ràng buộc của công ước đó. Tất cả đều phải xử lý theo tinh thần của Công ước.

Thịnh Hồng : Căn cứ của Đường 9 đoạn mà chúng ta vạch ra là gì?

SAU PHILIPPINES LÀ VIỆT NAM?

Trung Quốc đang tạo ra một loạt sự cố: nâng cấp địa khu để quản lý hai quần đảo Hoàng Sa -Trường Sa của Việt Nam, gọi thầu quốc tế trong vùng đặc quyền kinh tế/thềm lục địa của Việt Nam, cử tàu tuần tra vào biển Việt Nam, sẽ cắm giàn khoan 981 ở biển Đông… Những sự kiện này diễn ra khi cuộc đối đầu Trung Quốc gây ra với Philippines chưa kết thúc hẳn.
Ngày 27.6, đại diện bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp đại diện đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội trao công hàm phản đối việc tổng công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC) mở thầu quốc tế tại chín lô dầu khí nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa của Việt Nam. Trước đó, vào ngày 26.6, người phát ngôn bộ Ngoại giao ta đã khẳng định: Việt Nam cực lực phản đối việc làm ngang ngược của Trung Quốc và yêu cầu phía Trung Quốc hủy bỏ ngay việc mời thầu sai trái trên, không có hành động làm phức tạp tình hình ở Biển Đông và mở rộng tranh chấp.
Chủ định gây ra một loạt sự cố
Ông Đỗ Văn Hậu, tổng giám đốc PVN chỉ trên bản đồ 9 lô mà CNOOC vừa mời thầu nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, tại cuộc họp báo ngày 27.6.2012. Ảnh: Getty Images 
Bên cạnh việc cực lực phản đối hành động xâm phạm chủ quyền Việt Nam của Trung Quốc và yêu cầu Trung Quốc hủy bỏ ngay việc mời thầu sai trái trên, bộ Ngoại giao nước ta đã kêu gọi Trung Quốc nghiêm túc tuân thủ Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc, tôn trọng luật pháp quốc tế và bản Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Hành động ngang ngược nói trên của Trung Quốc diễn ra gần như cùng lúc với việc Trung Quốc nâng cấp địa khu đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam là kịch bản được chuẩn bị sẵn, có tính toán sâu xa và chủ đích lâu dài.
Tuyên bố của người phát ngôn bộ Ngoại giao và tổng giám đốc tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) trong các ngày 26 và 27.6 đã chỉ rõ, chín lô dầu khí nà Trung Quốc đang gọi thầu nói trên hoàn toàn không phải nằm trong khu vực có tranh chấp mà thuộc chủ quyền Việt Nam theo Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982 (UNCLOS). Việc Trung Quốc ngang nhiên mời thầu quốc tế tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam không những xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia chính đáng của Việt Nam, mà còn vi phạm UNCLOS là Công ước quốc tế mà Trung Quốc là thành viên, làm phức tạp thêm tình hình căng thẳng ở Biển Đông. Chúng ta cũng đã kêu gọi các công ty dầu khí quốc tế không tham gia dự thầu chín lô dầu khí mà CNOOC gọi thầu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam.
Cùng trong những ngày bộ Ngoại giao Việt Nam đang phê phán hành động sai trái nói trên của Trung Quốc, một nhóm tàu tuần tra bao gồm bốn tàu Hải giám Trung Quốc (CMS) đã di chuyển từ một thành phố duyên hải của Trung Quốc về phía Biển Đông của Việt Nam. Tân Hoa Xã dẫn lời một quan chức giấu tên cho biết, nhóm tàu nói trên dự kiến thực hiện cuộc hành trình 4.500 km trong chiến dịch tuần tra này, thậm chí còn nhấn mạnh rằng các cuộc diễn tập theo đội hình sẽ được tiến hành nếu điều kiện hàng hải cho phép.
Trong một diễn biến liên quan khác, nhà nghiên cứu Lưu Phong, thuộc viện Nghiên cứu Nam Hải Trung Quốc, mới đây đã nói với hãng Reuters rằng với việc cải thiện công nghệ giàn khoan biển xa của Trung Quốc, giàn khoan Trung Quốc xâm nhập khu vực trung tâm và phía nam biển Đông chỉ là vấn đề thời gian. Hiện nay, hoạt động khoan thăm dò biển xa của CNOOC và hai trùm dầu mỏ quốc doanh khác của Trung Quốc đều ở các vùng biển dọc tuyến hoặc lân cận thềm lục địa, nhưng việc triển khai giàn khoan 981 trị giá 1 tỉ USD cùng với một số thiết bị khoan thăm dò đồng bộ đã phần nào cho thấy hoạt động khoan thăm dò của Trung Quốc có thể sẽ được đẩy xuống phía nam.
Tiến khả công, thoái khả thủ
Theo nghiên cứu viên nói trên, bất cứ quyết định nào về việc đi vào khu vực tranh chấp để khai thác dầu khí đều sẽ do các nhà hoạch định chính sách từ Bắc Kinh đưa ra chứ không phải là CNOOC. Một số chuyên gia thuộc ngành này cho rằng, trong bối cảnh tình hình căng thẳng ở khu vực vẫn rất cao, bất cứ hoạt động khoan thăm dò nào đều ít khả năng xuất hiện trong khu vực tranh chấp. Tuy nhiên, không loại trừ CNOOC - một công ty luôn cố gắng có tăng trưởng về sản lượng - có thể sẽ muốn tận dụng cơ hội “tinh thần dân tộc lên cao”, cố gắng tranh thủ Chính phủ Trung Quốc ủng hộ kế hoạch thăm dò dầu khí biển sâu của họ.
Chính tờ “Thời báo Hoàn cầu” (tờ báo chính thức của Đảng cộng sản Trung Quốc) ngày 25.6 cũng công khai thừa nhận việc Trung Quốc nâng cấp địa khu để quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam không phải là phản ứng bị động của Trung Quốc sau khi Việt Nam thông qua luật Biển ngày 21.6 mà là việc làm chủ động của Trung Quốc, nhất cử lưỡng tiện, “tiến khả công thoái khả thủ”. Và như chính tờ báo này thừa nhận, vượt qua “tuyên bố chủ quyền đối ngoại” thể hiện quyết tâm của Bắc Kinh trong việc quản lý các vùng biển, đảo liên quan đến Biển Đông, việc làm này có sức nặng hơn việc thông qua luật Biển (!) và sự chủ động này của Trung Quốc là do Việt Nam và Philippines ép buộc (!)
Trong khi đó, trả lời các cơ quan truyền thông trong nước, ông Phạm Bình Minh, bộ trưởng bộ Ngoại giao Việt Nam, khẳng định: “Với việc Quốc hội thông qua luật Biển Việt Nam, chúng ta đã chuyển một thông điệp quan trọng đến cộng đồng quốc tế. Đó là: Việt Nam là một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về luật Biển năm 1982, phấn đấu vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và trên thế giới”.
Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam cũng cam kết rõ: “Đây là chủ trương nhất quán của Nhà nước ta. Chúng ta đã, đang và sẽ kiên trì thực hiện chủ trương này. Trên thực tế, đến nay chúng ta đã giải quyết được một số tranh chấp với các nước láng giềng. Ví dụ năm 1997, ta cùng Thái Lan phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; năm 2000, cùng Trung Quốc phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong vịnh Bắc Bộ; năm 2003 cùng Indonesia phân định thềm lục địa...”

NHƯ ĐÀO BÙI

Cóp trên DG, giơi thiệu cung anh em.

--------------------------------------------------

Hàng xóm mình có ông cụ tổ chức mừng thọ 80. Gia đình Cụ cũng thuộc dạng căn bản, cụ có lương hưu, lại có ít xèng gửi tiết kiệm nữa, lại nho nhoe tý chữ nghĩa, nghe đâu trước cụ làm ở Bộ Giáo Dục. Khổ nỗi, Cụ lại thuộc dạng “tất niên 28, hoá vàng mồng 5” tức là đéo có thằng nào chống gậy.

Cụ có 3 con gái, trong đó 2 đứa đầu là giáo viên nên 2 thằng rể đầu cũng cơ bản giống cụ khoản học hành, công việc chúng tạm ổn, nho nhoe tý chứ nghĩa nhưng cũng giống cụ nốt về đường con cái, tức là thuộc hệ thống “1900 1 tông 1 dép”. Về cơ bản, cụ ưng 2 thằng này.

Thằng rể thứ 3 thì chả học hành mẹ, bản tính nông dân chân chất 2 vợ chồng ở nhà đi buôn và chạy xe tải, nhưng lại có 2 thằng chống gậy, thế mới đểu.

Hôm mừng thọ, Cụ bắt 3 thằng rể mỗi thằng phải chúc thọ 1 câu, cho có vẻ.

Thằng rể đầu chúc: “ Con chúc bố như Trúc như Mai”

Thằng rể thứ chúc: “Con chúc bố như Hài như Hạc”

Nghe hai thằng rể chúc xong, Cụ mát hết cả ruột vì thấy chúng nó toàn chúc mình với những thứ thanh tao. Khổ nỗi thằng rể 3 thì học hành mẹ gì đâu nên biết chúc cái gì. Cụ lấy làm không vui, đá đểu, con không chúc gì ah. Thằng rể 3 bí quá chúc đại, “Con chúc bố như cái đầu buồi”.

Cụ tím mặt, giận lắm, vì ngờ đâu con cái nó lại chúc mình như cái đầu buồi. Cho rằng như thế là xỏ lá. Cụ tuyên bố từ mặt con.

Một hôm, có ông bạn đến chơi, vì vẫn còn bực bội cụ lôi chuyện nhà ra kể. Nghe xong ông bạn bẩu: Thực ra 2 thằng đầu mới là 2 thằng xỏ lá, còn thằng thứ 3 mới là thằng tốt, nó chúc Cụ thực lòng đấy chứ.

Và Cụ bạn giải thích: Thằng đầu nó chúc Cụ như Trúc như Mai ý nó nói là cụ Chết nay chết mai còn mừng thọ làm đéo gì. Thằng thứ 2 nó chúc Cụ như Hài như Hạc, ý nó nói cụ có vài đồng bày đặt tổ chức hoành tráng mấy hôm nữa lại đói dài đói rạc ra ấy chứ.

Còn thằng thứ 3 nó chúc như đầu buồi là có ý cả đấy: “Đầu buồi Cặc lỏ; Đâm xỏ đâm xiên; Đẻ ra con tiên cháu rồng; Lưu truyền vạn đại; Thờ lại thờ đi” tức ý nó là kể cả cụ không có con trai thì sau này nó và con trai nó vẫn thờ cúng cụ đàng hoàng giống như dân tộc Champa họ thờ đầu buồi (Linga) ý.

Nghe xong, Cụ thở phào, mát hết ruột và phán: “Địt mẹ những thằng có học, có tý chữ là rặt những thằng xỏ lá….”

CHƯA BAO GIỜ, NÓ THƯƠNG CHỒNG ĐẾN THẾ

Bài của Thị Beo. Đọc bài này mình nghĩ là đã biết nhân vật mà Beo nói tới. Chao ôi số phận khác nhau cho nhưng đứa con khác nhau trong cùng một gia đình. Rất may là vợ chồng ông ta đã về hưu năm ngoái. Vì thế mình đăng lại để anh em chém.
------------------
Chồng nó chết rồi.

Thời hạn tang chế, người bảo 1 năm người 27 tháng.

Nó, chẳng nghe ai. Đeo miếng chữ nhật đen như cái huy hiệu trên ngực trái, ngày giỗ năm thứ 3, nó tháo mang ra mộ chồng, nhấn xuống ô đất bằng viên gạch trên nắp mộ. Thủ tục đoạn tang thế là xong.

Hôm ấy, nhìn vào bát nhang loe ngoe mấy cái chân nhang của chính mẹ con nó thắp lên từ lần thăm mộ trước, nó thấy thương chồng và đó là lần thứ hai trong 5 năm chung sống, nó có cảm giác ấy.

5 năm, hết 3 chồng nó dính bệnh nan y. Chạy chữa đông tây không thiếu chỗ nào. Trong một buổi trưa quẫn trí, chồng nó lao đầu từ lầu 3 xuống đất. Khi nó chạy xuống đến nơi, thành bụng chồng nó rách toang, nội tạng trào cả ra ngoài. Nó cũng chịu, không thể giải thích vì sao lúc ấy nó không cả kinh khiếp lẫn xót thương.

Lòng nó lạnh tanh trong suốt cái đám ma dòng người viếng đông ngàn ngạt. Mẹ chồng nó mắt long sòng sọc. Cũng còn nhẹ bởi quan khách đông nên bả không chửi được con với bố mẹ con như ngày thường, cô ạ. Nó kể.

Nhà nó, chẳng giàu chẳng nghèo, na ná như hàng ngàn hàng vạn gia đình ở cái thành phố tấp nập này. Học hết lớp 12, trượt đại học, nó được một hãng rượu nhận vào làm chân tiếp thị. 6h tối hàng ngày, đóng bộ đồng phục của hãng, cầm chai rượu đi lòng vòng các bàn mời chào khách uống. Công việc không có lương, chỉ được hưởng hoa hồng từ số rượu bán được.

Nó tán chồng nó trước.

Chủ động, nhưng không bắt đầu chỉ từ thiện cảm.

Chồng nó là khách VIP của quán. Mỗi lần đến nhậu, đích thân chủ quán xăng xái xuống hầu bàn. Và không lần nào chồng nó đến một mình cho nó cơ hội buông lời ong bướm. Hôm này cô ca sĩ hôm khác cô người mẫu đeo chặt.

Nhan sắc không bằng người. Nó phải ủ mưu.

Nó tưới nguyên li rựou lên người một tháng sau là chồng nó. Và nó khóc sướt mướt, khóc chân thành về cái lỗi vụng về của mình.

Ngay hôm sau, chồng nó đến quán, một mình. Hai đứa biết toàn bộ gia thế của nhau.

Tối hôm sau nữa, nó ăn cái tát đầu tiên xây xẩm mày mặt từ bà Long sòng sọc.

4 trận đòn tương tự thế. Hãng rượu, buộc phải chọn giữa lời đe dọa đóng cửa của Long sòng sọc hay cho một trong những nhân viên tiếp thị giỏi nhất của mình thôi việc.

Nó thắng.

Chúng nó về ở với nhau trong ngôi biệt thự ngay cả lúc mơ mộng nhất nó cũng không tưởng tượng được mình sẽ là chủ nhân.

Nhìn nhà cửa xe cộ của con gái, bố mẹ nó cũng bớt phần đắng cay trước những rủa xả tục tằn của gia đình chồng nó, không từ cả hai ông bà.

Con nó sinh ra thiếu mất 10 ngày kể từ ngày nó bước chân vào biệt thự.

Nghiệt nỗi, con trai mà giống nó y đúc, không nét nào của bố.

Cháu chưa đầy tháng, đích thân Long sòng sọc xách đi thử ADN. Nó nhận một trận chửi chưa từng có khi kết quả xét nghiệm được gửi về. Trái mong đợi của Long sòng sọc nhưng chồng nó, thỏa lòng.

Chưa dứt sữa thằng lớn đứa thứ hai đã loi nhoi trong bụng. Chúng nó dọn về căn chung cư mà theo nó, tổ quỷ chứ nhà cửa gì cô ơi.

Chồng nó ngã bệnh.

Đêm đầu tiên trong tổ quỷ, chồng nó đã cố gắng làm tình với nó sau cả năm giời bầu bì chửa đẻ. Đó cũng là lần đầu tiên, nó thương chồng, xót xa cho thằng đàn ông đang bẽn lẽn vì bất lực, nằm bên cạnh.

***
Ngày đoạn tang bên mộ chồng, chờ hương tàn, nó dẫn con đến thẳng một gara quen nhờ bán cái xe chạy từ ngày lấy nhau. Cái xe này mua bằng tiền ông bà ấy cho. Con không muốn dính dáng gì đến họ nữa, bán đi cho khuất cô ơi.

Bọc tiền bán xe chưa kịp kiểm đếm, nó phải hộc tốc mang trả lại.

Ông bả đòi bỏ tù con vì tội ăn cắp xe của ông bả đem bán. Con trả xe lại rồi, coi như con bị mất cắp vậy. Giọng nó vô cảm qua điện thoại.

Sáng nay, trờ tới cơ quan đã thấy nó đứng ngay trước cửa, nước mắt tong tong hai hàng.

Ông bả đòi khai quật mộ con ông bả lên để xem con có giết chồng con không. Người hay là gì hả cô? Chưa bao giờ con thương chồng con như vầy, cô ơi.