Thứ Sáu, 31 tháng 8, 2012

ANH # CÓ NUỐT LỜI?

Lâm Trực

Vào mạng đọc báo, thấy chuyện lạ.

Chuyện rằng, Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng đã hứa sẽ thưởng cho đơn vị thi công Dự án 3B đường vành đai 3 nếu đơn vị này vượt chỉ tiêu về thời gian và đảm bảo chất lượng công trình. Nhưng đến nay, công trinh đã hoàn thành vượt tiến độ thời gian, thì ông Bộ trưởng lại lặn mất tăm. 

Cấp dưới nói là không hay, không biết và vân vân.

Trong cuộc họp bất thường diễn ra vào tháng 1/2012, Tổng GĐ Tổng Cty xây dựng Thăng Long Phan Quốc Hiếu và Tổng GĐ Tổng Cty Xây dựng Công trình Giao thông 8 Vũ Hải Thanh cùng cam kết nếu công trình không về đích sớm 5 tháng sẽ nộp đơn xin thôi việc.

Đồng thời, ông Phan Quốc Hiếu cũng đã đề xuất 2 điều kiện với Bộ trưởng. Một là, cho ứng thêm 10% tiền nữa. Hai là, cho thưởng tiến độ để lấy tiền huy động máy móc, thiết bị. Ngay sau đó, những yêu cầu của Tổng GĐ Tổng Cty xây dựng Thăng Long được đáp ứng. Ngày 11/6, trao đổi với báo chí, hai tổng GĐ dám cược chức vụ của mình với Bộ trưởng GTVT thi công hoàn thành trước 6 tháng cho biết tiến độ thậm chí về đích trước 10 ngày và "tiền thưởng hàng chục tỷ đồng trong tầm tay".



Để biết rõ hơn nội dung, các bạn có thể xem tại đây: http://phunutoday.vn/xa-hoi/doi-song/201208/Roi-mu-chuyen-vac-ghe-cuoc-voi-bo-truong-Thang-doi-thuong-2182941/

Vậy mà...Chỉ là lời hứa thôi mà.

ĐÀN BÀ TÂY NGUYÊN, ĐẾN RỒI BIẾT...

Văn Công Hùng


Bài này tôi viết theo đặt hàng của một tờ báo, tất nhiên là cho ngày tám tháng ba, một trong những ngày "vĩ đại" đối với cả thế giới. Thôi thì chả làm sao cám ơn và bày tỏ được hết, tôi post bài này nhân hôm nay là Vu Lan như một lời chia sẻ, cảm ơn và cảm phục của tôi đối với các bà, các mẹ, các chị, các em, các cháu...



          Hồi mới lên Tây Nguyên, ấn tượng sâu đậm nhất trong tôi là giữa ánh hoàng hôn chạng vạng, từng đoàn phụ nữ đeo gùi lầm lũi đi hàng dọc trong chiều. Nhiều nhà nhiếp ảnh đã "ăn" những cái ảnh rất đẹp về hình tượng này. Không gian mênh mông thoáng đãng, những con đường tít tắp mờ chân trời, chân trần da nâu lẳn chắc, cái dáng cong về phía trước của phụ nữ Tây Nguyên nó gợi vô cùng. Chưa kể còn váy, áo ló hở vai, thậm chí là ngực trần.  Cặp vú trinh nữ cong vút như sừng dê non, nâu bóng hiên ngang chĩa vào chiều làm khối chàng đau mắt, nhiều người bị tai nạn giao thông. Mà trong cái gùi ấy không nhẹ đâu nhé. Khi thì củi, lúc thức ăn, có thể là lúa, là nước, những bầu nước suối xếp đầy và thường là đi ngược dốc, ngược nắng... nó tạo cho tôi ấn tượng về người phụ nữ Tây Nguyên gắn với... gùi. Nó đẹp nhưng buồn, cái buồn lặng lẽ cam chịu, một chút hoang vắng, một chút cô đơn, một chút nhẫn nhục...

          Ở lâu tôi mới phát hiện, làm đàn ông Tây Nguyên sướng thật. Chế độ mẫu hệ dẫu có mất "quyền làm chủ" một tí, nhưng sướng lắm. Này nhé, sáng sớm các lão chồng đang ngủ pho pho thì các bà vợ đã lặng lẽ dậy, sau khi đẩy củi vào cho bếp liu riu thêm để "chồng yêu" ngủ nướng khỏi lạnh, các bà nhặt các quả bầu khô nước xếp vào gùi xuống suối lấy nước. Làng nào gần suối còn đỡ, có làng như làng người Xê Đăng chẳng hạn, chuyên môn ở trên triền núi cao, đường xuống suối thăm thẳm và dốc ngược, trơn nhẫy. Gùi nước về xếp vào sàn thì giã gạo. Thường người Tây Nguyên ăn ngày nào giã gạo ngày ấy. Giã xong thì nấu cơm. Trong lúc chờ cơm chín thì cho lợn gà ăn. Cơm chín thì vào lay chồng con dậy, ăn xong vào rẫy thì chồng phì phèo thuốc, vác mỗi con dao đi trước với con chó véo von hát. Vợ địu con trước ngực, gùi sau lưng, tay dắt đứa lẫm chẫm vừa đi vừa chạy cho kịp chồng. Đứa trẻ được địu sau lưng có kiểu bú rất lạ: nhổm qua vai để bú, lâu dần nó không cần nhổm mà chỉ vươn tay ra phía trước là tóm được vú vắt ngược vai mẹ cho vào mồm.

          Sướng nhất là... nối dây. Vợ chẳng may mệnh hệ nào thì lập tức họ hàng nhà vợ họp lại, chọn ra một người, phần lớn là em, cháu vợ, làm vợ nối dây cho anh chồng tội nghiệp kia. Anh này chỉ được một quyền duy nhất là... chấp nhận. Tôi biết nhà văn Nguyễn Ngọc Ký cũng được... nối dây kiểu này, nhưng ở người Kinh thì hình như đây là trường hợp độc nhất, còn ở chế độ mẫu hệ Tây Nguyên, đây là việc đương nhiên. Chúng ta chắc có người đọc có người nghe tiểu thuyết "Đất nước đứng lên" của nhà văn Nguyên Ngọc, trong tiểu thuyết có nhân vật H'Liêu là vợ Núp. Bà này bị chết khi Núp bắt đầu tập kết. Ra Hà Nội ông lấy vợ khác là nghệ sĩ H"ben, rồi bỏ, sau này khi về lại Gia Lai, ông nối dây lại với bà Ch'rơ, em ruột H'Liêu, và sống với bà này cho đến những ngày cuối đời.

          Nhưng có lẽ nhờ truyền thống mẫu hệ ấy mà Tây Nguyên cũng xuất hiện những phụ nữ tuyệt vời. Đấy là một chị H'noanh ở làng Bạc, xã Ia Phìn, huyện Chư Prông. Trong chiến tranh chống Mỹ, chị là trung đội trưởng du kích, đánh hàng trăm trận đến nỗi bọn Mỹ ngụy nghe đến tên là khiếp đảm. Chồng chị cũng là du kích, và anh đã hy sinh trong một trận chống càn. Theo phong tục, chị nối dây với chú em chồng, cũng đang là chiến sĩ du kích trong trung đội của chị. Rồi anh này cũng hy sinh. Hai anh hy sinh để lại cho chị hai đứa con và bà mẹ chồng. Chị tiếp tục nuôi con, đánh giặc và nuôi mẹ chồng. Sau giải phóng, chị nhường hết hai suất tiêu chuẩn liệt sĩ cho mẹ chồng, còn mình làm rẫy nuôi con và làm chủ tịch phụ nữ xã. Chị sống giản dị đến mức kinh ngạc. Chúng tôi đã nhiều lần vào thăm chị, vài lần thắc mắc tại sao chị không được phong anh hùng? Nhưng chị thì không quan tâm...

          Bà Y Một, rồi bà Y Vêng, nguyên phó bí thư và bí thư tỉnh ủy tỉnh Kon Tum cũng là những nhân vật phụ nữ Tây Nguyên kiệt xuất. Các bà phụ nữ là người dân tộc thiểu số làm đến bí thư, phó Bí thư tỉnh ủy ở nước ta không nhiều. Ở phía bắc thì có bà Tòng Thị Phóng, Hà Thị Khiết, ở Tây Nguyên thì bà Một bà Vêng- Bà  Y Một còn làm đến phó chủ tịch quốc hội, Ủy viên dự khuyết trung ương Đảng. Trước đó, từ thời Tây Sơn tụ nghĩa, xuất hiện trong vai trò một thủ lĩnh có Yă Đố. Đấy là người đàn bà con của một tù trưởng người Bahnar vùng An Khê, được gả làm vợ ba của "người trời" Nguyễn Nhạc. Bà phụ trách toàn bộ việc quân lương và luyện voi. Bà đã biến vùng Tây Sơn thượng hoang sơ thành những cánh đồng trù phú được gọi là "đồng Cô Hầu" còn vết tích đến ngày nay. Ngày nay vẫn còn những bãi luyện voi, những vườn cam, vườn mít do chính bà chỉ huy làm nên để bổ sung lương thực cho nghĩa quân Tây Sơn. Và điều quan trọng là, cho đến bây giờ, trong lòng người dân vùng Tây Sơn thượng đạo, Yă Đố- cô Hầu- vợ ba của Nguyễn Nhạc vẫn còn sống mãi, hầu như không ai ở vùng này là không biết tên và công đức của bà.

          Vai trò các già làng ở Tây Nguyên là rất quan trọng. Cũng chả hiểu sao mà ở chế độ mẫu hệ nhưng hàng mấy trăm năm qua, các già làng chỉ toàn là... đàn ông. Nó quen đến nỗi nói đến già làng ta hình dung ra một lão ông quắc thước, râu trắng như cước, da đỏ như son, ngậm tẩu, nghiêm nghị, thông minh... Già làng vừa là quyền uy, vừa là tri thức, lại vừa là tâm linh, trên thông thiên văn, dưới tường địa lý để có thể xử tuốt các việc trong làng, từ lớn như quyết định dời làng lập làng, chiến tranh, cúng gọi mưa, cúng chống dịch bệnh, lý giải các giấc mơ... đến giải quyết các xích mích, cãi vã, ghen tuông, lợn gà... tóm lại phải là một người giỏi, ưu tú nhất trong cộng đồng, trong làng, thế mà gần đây ở Gia Lai đã có một... nữ già làng rất uy tín, nói dân làng nghe răm rắp. Bà là H'lâm ở xã Ia Mơr, huyện Chư Prông. Thực ra thì bà nguyên là thượng úy quân đội nghỉ hưu. Thời tuổi trẻ bà đã có hai năm được ra miền bắc ăn học rồi trở về quê đánh giặc. Hết giặc thì về làm dân và bà trở thành già làng chỉ vì không chịu nhìn thấy cảnh dân làng mình lạc hậu mông muội. Bà hướng dẫn nhân dân làm ăn, hướng dẫn dân làng cách sống mới, có vệ sinh và biết áp dụng các điều kiện sống mới vào cuộc sống của mình. Vì can thiệp vào các hủ tục mà đã vài lần bà suýt bị cộng đồng đuổi ra khỏi làng. Tất nhiên già làng bây giờ thì vai trò và quyền uy không còn như ngày xưa, vì còn có chính quyền và các đoàn thể, người dân cũng hiểu biết hơn chứ không như ngày xưa cái gì cũng hỏi già làng. Nhưng để được suy tôn như thế, từ xưa đến nay ở Tây Nguyên mới chỉ mình H'lâm là một...

          Còn về sắc đẹp của con gái Tây Nguyên thì...thôi chả kể nữa, các bạn có muốn tìm hiểu thì xin đọc Đăm San, Xing Nhã, và mới đây là Đăm Noi, các trường ca cổ. Mà đấy là thời cổ, chứ còn bây giờ á, thôi đến rồi biết...
                                                                             V.C.H


DSC06830[1].jpg
tạo dáng teen...

Thứ Năm, 30 tháng 8, 2012

“Nó có đẻ ra chúng mày đâu mà gọi là mẹ”

Lâm Trực
Đọc bài báo này thấy thương chị Miền kinh khủng. Xin đăng lại để mọi người cùng suy ngẫm.

"Bố mẹ chồng cứ bảo với bọn trẻ: "Nó có đẻ ra chúng mày đâu mà gọi nó là Mẹ. Mẹ chúng mày trên bàn thờ kia kìa" - chị Trần Thị Miền (50 tuổi  Xuân Hòa - Vũ Thư - Thái Bình) nhớ lại những ngày đã qua, rơi nước mắt.
Định bỏ chạy nhiều lần...
"Bố tôi cưới được mẹ Miền là một điều may mắn, gia đình tôi trở thành gánh nặng trên vai mẹ. Nếu không về với bố, chắc mẹ đã có một cuộc sống sung sướng, an nhàn hơn. Chẳng biết bao nhiêu quả ngọt vào ai mà đắng chát cứ theo mẹ từng ngày. Tôi thương mẹ nhiều hơn những gì tôi nói ra và hơn cả những điều ít ỏi tôi đã làm được cho mẹ - Đinh Văn Dũng (con trai anh Đinh Văn Dụng - chồng chị Miền) nói về người mẹ ghẻ của mình.

Còn chị Miền thì bảo ngay từ đầu nếu anh Dụng không đưa chị đi đăng ký kết hôn thì chắc là chị đã bỏ chạy mất. Ngày mới về nhà thấy hai đứa con chồng, đứa lên 5, đứa lên 3 nheo nhóc, ăn cơm thì không mâm, không bát đĩa, chỉ mỗi cái thìa xới thẳng từ nồi, nền nhà đất thì lồi lõm ổ voi ổ gà, bố mẹ chồng trái tính, khó chiều, nhà thì có mà cửa thì không. Đêm đến hai đứa con chồng với vợ chồng mới cưới nằm chung một chiếc giường chật hẹp... "Tôi nghĩ và chán nản vô cùng".

Chị Miền chăm sóc mẹ chồng
Bà Hoạt (thím của anh Dụng) cho biết: Nó về làm dâu nhà này khổ lắm, lại mang tiếng dì ghẻ. Làm quần quật ngày đêm để có tiền trả mấy khoản nợ cũ cho gia đình, cả tiền thắp điện từ năm 1993 mà mãi đến 1997 nó vẫn phải làm mà trả. Khổ thân.

“Ngày mới về nhà, hai đứa con cứ chạy theo gọi tôi bằng Mẹ. Bố mẹ chồng cứ bảo với chúng: "Nó có đẻ ra chúng mày đâu mà gọi nó là Mẹ. Mẹ chúng mày trên bàn thờ kia kìa. Chúng nó nào biết gì đâu, đến nỗi mỗi khi ra mộ chị cả thắp hương, hai đứa còn vạch quần đái lên trên mộ. Thế rồi nghe lời ông bà, hai đứa cứ xưng hô trống không. Mãi cho đến khi lên 8 lên 10, chúng mới lại gọi Mẹ, tôi mừng đến rớt nước mắt” - chị Miền tâm sự.
Tủi phận làm mẹ nghịch tử

Đinh Thế Hùng và Đinh Văn Dũng - hai người con chồng tranh nhau kể lại những ngày tháng ham chơi, ngỗ nghịch khiến mẹ Miền lo lắng, muộn phiền: "Bọn tôi toàn trốn học đi đánh nhau với bạn. Có lần người ta lùng đến tận nhà, đòi mẹ đền 5 triệu, không thì sẽ tìm giết bọn tôi. Hai anh em trốn trong nhà mấy ngày liền không dám ló mặt ra đường, cũng không đến lớp học. Mẹ chạy vạy kì đủ 5 triệu mang đến cho người ta để cứu chúng tôi.


Chị Miền ứa nước mắt nhớ lại ngày đầu về làm mẹ ghẻ của hai đứa con chồng

Lên lớp, chúng tôi đùa nghịch với bạn rồi đập vỡ lọ hoa, sọt rác, thiết bị của lớp. Đến mỗi kỳ họp phụ huynh, cô giáo đều phê bình “con mẹ” và bắt phải đóng tiền bồi thường. Có hôm đến bữa cơm, bố hỏi mẹ, kết quả học tập của hai con thế nào, mẹ bưng bát cơm mà nước mắt chảy dài, không nói một lời nặng. Bố biết ý nên thôi, nói lảng chuyện khác.

Ở cái xóm Cự Lâm này, chắc chưa ai ngỗ nghịch như anh em nhà tôi, thế mà chẳng bao giờ bị mẹ mắng. Mẹ chỉ nhẹ nhàng kể những câu chuyện để khuyên hai anh em. Nhưng chúng tôi cứ bỏ ngoài tai. Đêm, mẹ lại khóc nhiều hơn. Bây giờ, tôi mới kịp hiểu những dòng nước mắt ấy chua chát đến chừng nào.

Bố tôi tính hay keo kiệt, mỗi khi biết mẹ đi chợ mua quà bánh cho hai anh em tôi là bố lại mắng mẹ. Còn anh em tôi được kẹo thì sung sướng lắm, mặc kệ không quan tâm mẹ bị mắng hay không. Nhiều lần mẹ mua bánh quy đưa cho hai anh em rồi bảo chạy ra chỗ khác mà ăn, đừng để bố thấy bố lại mắng. Nghĩ lại ngày ấy mà thương mẹ bội phần. Mẹ nào đã dám sắm cho mình một cái khăn mặt mới, toàn chắt chiu miếng ngon, quần áo đẹp cho hai anh em tôi".

Không phải mong được bù đắp

Ông Đỗ Văn Khương, trưởng thôn Cự Lâm cho biết: Người như chị Miền hiếm lắm. Phải nói là chị ấy quá nghị lực và bản lĩnh khi dạy dỗ hai đứa con trăm đường ngỗ nghịch giờ khôn lớn nên người. Làm tròn bổn phận dâu con với gia đình anh Dụng đã khó, làm mẹ của hai đứa con chồng càng khó hơn.

Ba đứa con chị Miền giờ đã khôn lớn. Cứ mỗi cuối tuần, các con đi làm, đi học xa về nhà quây quần, chuyện trò bên mâm cơm, chị Miền lại thấy ấm lòng. Ba anh em thương yêu nhau, không phân biệt con mẹ con cha.
Chị kể: mỗi khi về nhà, hai đứa lớn đều không quên mua kẹo, mua dây nơ đẹp cho em gái cài tóc. Chị cười: "Thằng Dũng đi sang nhà bạn gái chơi cũng kì kèo con Hạnh đi cùng cho bằng được".

Cuộc sống gia đình bây giờ khá giả hơn nhưng chị vẫn chịu khó làm lụng ngày đêm vì còn các con đang tuổi ăn học, lại thêm phụng dưỡng bố mẹ chồng đã ngoài tuổi 80. Anh Dụng làm nghề thợ xây, nay đây mai đó nên việc gia đình một tay chị gồng gánh.

"Dũng nói: “Sau này chúng con đi làm sẽ gửi tiền về cho mẹ an hưởng tuổi già. Mẹ không phải làm lụng vất vả nữa”, nhưng tôi mong các con khôn lớn trưởng thành chứ không phải mong được bù đắp" - nhắc đến những dứa conc hồng, chị Miền lại nở nụ cười hạnh phúc.
Hoàng Cúc

BÀN VỀ THUẬT NGỮ "TÔN GIÁO"

LâmTrự[email protected] post lại từ Reds.vn

“Tôn giáo” là một thuật ngữ không thuần Việt, được du nhập từ nước ngoài vào từ cuối thế kỷ XIX. Xét về nội dung, thuật ngữ Tôn giáo khó có thể hàm chứa được tất cả nội dung đầy đủ của nó từ cổ đến kim, từ Đông sang Tây.

Thuật ngữ “Tôn giáo” vốn có nguồn gốc từ phương Tây và bản thân nó cũng có một quá trình biến đổi nội dung và khi khái niệm này trở thành phổ quát trên toàn thế giới thì lại vấp phải những khái niệm truyền thống không tương ứng của những cư dân thuộc các nền văn minh khác, vì vậy trên thực tế đã xuất hiện rất nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về tôn giáo của nhiều dân tộc và nhiều tác giả trên thế giới.

“Tôn giáo” bắt nguồn từ thuật ngữ “religion” (Tiếng Anh) và“religion” lại xuất phát từ thuật ngữ “legere” (Tiếng Latinh) có nghĩa là thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên. Vào đầu công nguyên, sau khi đạo Kitô xuất hiện, đế chế Roma yêu cầu phải có một tôn giáo chung và muốn xóa bỏ các tôn giáo trước đó cho nên lúc này khái niệm “religion” chỉ mới là riêng của đạo Kitô. Bởi lẽ, đương thời những đạo khác Kitô đều bị coi là tà đạo. Đến thế kỷ XVI, với sự ra đời của đạo Tin Lành - tách ra từ Công giáo – trên diễn đàn khoa học và thần học châu Âu, “religion” mới trở thành một thuật ngữ chỉ hai tôn giáo thờ cùng một chúa. Với sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản ra khỏi phạm vi châu Âu, với sự tiếp xúc với các tôn giáo thuộc các nền văn minh khác Kitô giáo, biểu hiện rất đa dạng, thuật ngữ “religion” được dùng nhằm chỉ các hình thức tôn giáo khác nhau trên thế giới.

Thuật ngữ “religion” được dịch thành “Tông giáo” đầu tiên xuất hiện ở Nhật Bản vào đầu thế kỷ XVIII và sau đó du nhập vào Trung Hoa. Tuy nhiên, ở Trung Hoa, vào thế kỷ XIII, thuật ngữ Tông giáo lại bao hàm một ý nghĩa khác, nó nhằm chỉ đạo Phật (Giáo: đó là lời thuyết giảng của Đức Phật, Tông: lời của các đệ tử Đức Phật).

Thuật ngữ Tông giáo được du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX, nhưng do kỵ húy của vua Thiệu Trị nên được gọi là “Tôn giáo”.

Như vậy, thuật ngữ tôn giáo ban đầu được sử dụng ở châu Âu nhằm chỉ một tôn giáo sau đó thuật ngữ này lại làm nhiệm vụ chỉ những tôn giáo.

Một số thuật ngữ tương đồng với tôn giáo

Tôn giáo là một từ phương Tây. Trước khi du nhập vào Việt Nam, tại Việt Nam cũng có những từ tương đồng với nó, như:

- Đạo: từ này xuất xứ từ Trung Hoa, tuy nhiên “đạo” không hẳn đồng nghĩa với tôn giáo vì bản thân từ đạo cũng có thể có ý nghĩa phi tôn giáo. “Đạo” có thể hiểu là con đường, học thuyết. Mặt khác, “đạo” cũng có thể hiểu là cách ứng xử làm người: đạo vợ chồng, đạo cha con, đạo thầy trò… Vì vậy khi sử dụng từ “đạo” với ý nghĩa tôn giáo thường phải đặt tên tôn giáo đó sau từ “đạo”. Ví dụ: đạo Phật, đạo Kitô…

- Giáo: từ này có ý nghĩa tôn giáo khi nó đứng sau tên một tôn giáo cụ thể. Chẳng hạn: Phật giáo, Nho giáo, Kitô giáo… “Giáo” ở đây là giáo hóa, dạy bảo theo đạo lý của tôn giáo. Tuy nhiên “giáo” ở đây cũng có thể được hiểu với nghĩa phi tôn giáo là lời dạy của thầy dạy học.

- Thờ: đây có lẽ là từ thuần Việt cổ nhất. Thờ có ý bao hàm một hành động biểu thị sự sùng kính một đấng siêu linh: thần thánh, tổ tiên… đồng thời có ý nghĩa như cách ứng xử với bề trên cho phải đạo như thờ vua, thờ cha mẹ, thờ thầy hay một người nào đó mà mình mang ơn… Thờ thường đi đôi với cúng, cúng cũng có nhiều nghĩa: vừa mang tính tôn giáo, vừa mang tính thế tục. Cúng theo ý nghĩa tôn giáo có thể hiểu là tế, tiến dâng, cung phụng, vật hiến tế… Ở Việt Nam, cúng có nghĩa là dâng lễ vật cho các đấng siêu linh, cho người đã khuất nhưng cúng với ý nghĩa trần tục cũng có nghĩa là đóng góp cho việc công ích, việc từ thiện… Tuy nhiên, từ ghép “thờ cúng” chỉ dành riêng cho các hành vi và nội dung tôn giáo. Đối với người Việt, tôn giáo theo thuật ngữ thuần Việt là thờ hay thờ cúng hoặc theo các từ gốc Hán đã trở thành phổ biến là đạo, là giáo.

Khái niệm tôn giáo

Khái niệm tôn giáo là một vấn đề được giới nghiên cứu về tôn giáo bàn cãi rất nhiều. Trong lịch sử đã từng tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau về tôn giáo:

- Các nhà thần học cho rằng “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con người”.

- Khái niệm mang dấu hiệu đặc trưng của tôn giáo: “Tôn giáo là niềm tin vào cái siêu nhiên”.

- Một số nhà tâm lý học lại cho rằng “Tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong nỗi cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, nếu anh chưa từng cô đơn thì anh chưa bao giờ có tôn giáo”.

- Khái niệm mang khía cạnh bản chất xã hội của tôn giáo của C.Mác: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, nó là tinh thần của trật tự không có tinh thần”.

- Khái niệm mang khía cạnh nguồn gốc của tôn giáo của Ph.Ăngghen: “Tôn giáo là sự phản ánh hoang đường vào trong đầu óc con người những lực lượng bên ngoài, cái mà thống trị họ trong đời sống hàng ngày …”

Tôn giáo là gì?

Để có khái niệm đầy đủ về tôn giáo cần phải chú ý:

- Khi nói đến tôn giáo, dù theo ý nghĩa hay cách biểu hiện nào thì luôn luôn phải đề cập đến vấn đề hai thế giới: thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu, thế giới của người sống và thế giới sau khi chết, thế giới của những vật thể hữu hình và vô hình.

- Tôn giáo không chỉ là những sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên và xã hội, do thiếu hiểu biết dẫn đến sợ hãi và tự đánh mất mình do đó phải dựa vào thánh thần mà còn hướng con người đến một hy vọng tuyệt đối, một cuộc đời thánh thiện, mang tính “Hoàng kim nguyên thủy”, một cuộc đời mà quá khứ, hiện tại, tương lai cùng chung sống. Nó gieo niềm hi vọng vào con người, dù có phần ảo tưởng để yên tâm, tin tưởng để sống và phải sống trong một thế giới trần gian có nhiều bất công và khổ ải.

Như vậy: Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia. Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý - văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau.

Bản chất, nguồn gốc của tôn giáo

- Tôn giáo xuất hiện từ rất lâu và con người mặc nhiên chấp nhận nó. Việc đặt ra câu hỏi: “Tôn giáo là gì” mới chỉ được giới khoa học đặt ra trong thời gian gần đây, khi mà vấn đề tôn giáo trở thành bức xúc và phức tạp. Khi câu hỏi này được đặt ra cũng là lúc mà tôn giáo trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học riêng biệt. Đối tượng nghiên cứu của tôn giáo xuất phát từ châu Âu khá sớm nhưng bộ môn khoa học về tôn giáo chỉ ra đời vào cuối thế kỷ XIX.

- Tôn giáo là một sản phẩm của lịch sử. Trong các tác phẩm của mình C. Mác đã khẳng định: “Con người sáng tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người”. Tôn giáo là một thực thể khách quan của loài người nhưng lại là một thực thể có nhiều quan niệm phức tạp về cả nội dung cũng như hình thức biểu hiện. Về mặt nội dung, nội dung cơ bản của tôn giáo là niềm tin (hay tín ngưỡng) tác động lên các cá nhân, các cộng đồng. Tôn giáo thường đưa ra các giá trị có tính tuyệt đối làm mục đích cho con người vươn tới cuộc sống tốt đẹp và nội dung ấy được thể hiện bằng những nghi thức, những sự kiêng kỵ…

- Rất khó có thể đưa ra được một định nghĩa về tôn giáo có thể bao hàm mọi quan niệm của con người về tôn giáo nhưng có thể thấy rõ rằng khi nói đến tôn giáo là nói đến mối quan hệ giữa hai thế giới thực và hư, của hai tính thiêng và tục và giữa chúng không có sự tách bạch.

Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, Ph. Ăng nghen đã có một nhận xét làm cho chúng ta thấy rõ bản chất của tôn giáo như sau: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo – vào trong đầu óc của con người – của những lực lượng bên ngoài chi phối cuộc sống của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế.”.

Nguồn gốc của tôn giáo

Vấn đề nguồn gốc của tôn giáo là một trong những vấn đề quan trọng nhất của tôn giáo học mácxít. Nhờ vạch ra được nguyên nhân xuất hiện và tồn tại của hiện tượng nào đó mà sự giải thích nó mới mang tính khoa học. Đối với hiện tượng tôn giáo cũng vậy.

V. I. Lênin đã gọi toàn bộ những nguyên nhân và điều kiện tất yếu làm nảy sinh niềm tin tôn giáo là những nguồn gốc của tôn giáo. Nguồn gốc đó bao gồm:

a. Nguồn gốc xã hội của tôn giáo

Nguồn gốc xã hội của tôn giáo là toàn bộ những nguyên nhân và điều kiện khách quan của đời sống xã hội tất yếu làm nảy sinh và tái hiện những niềm tin tôn giáo. Trong đó một số nguyên nhân và điều kiện gắn với mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, một số khác gắn với mối quan hệ giữa con người với con người

- Mối quan hệ giữa con người với tự nhiên: tôn giáo học mácxít cho rằng sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên là một nguồn gốc xã hội của tôn giáo. Như chúng ta đã biết, mối quan hệ của con người với tự nhiên thực hiện thông qua những phương tiện và công cụ lao động mà con người có. Những công cụ và phương tiện càng kém phát triển bao nhiêu thì con người càng yếu đuối trước giới tự nhiên bấy nhiêu và những lực lượng tự nhiên càng thống trị con người mạnh bấy nhiêu. Sự bất lực của con người nguyên thủy trong cuộc đấu tranh với giới tự nhiên là do sự hạn chế, sự yếu kém của các phương tiện tác động thực tế của họ vào thế giới xung quanh. Khi không đủ phương tiện, công cụ để đảm bảo kết quả, mong muốn trong lao động, người nguyên thủy đã tìm đến phương tiện tưởng tượng hư ảo, nghĩa là tìm đến tôn giáo. F. Ăngghen nhấn mạnh rằng tôn giáo trong xã hội nguyên thủy xuất hiện do kết quả phát triển thấp của trình độ lực lượng sản xuất. Trình độ thấp của sự phát triển sản xuất đã làm cho con người không có khả năng nắm được một cách thực tiễn các lực lượng tự nhiên. Thế giới bao quanh người nguyên thủy đã trở thành cái thù địch, bí hiểm, hùng hậu đối với họ. Chúng ta cần thấy rằng, sự thống trị của tự nhiên đối với con người không phải được quyết định bởi những thuộc tính và quy luật của giới tự nhiên, mà quyết định bởi mối tính chất mối quan hệ của con người với tự nhiên, nghĩa là bởi sự phát triển kém của lực lượng sản xuất xã hội, mà trước hết là công cụ lao động.

Như vậy, không phải bản thân giới tự nhiên sinh ra tôn giáo, mà là mối quan hệ đặc thù của con người với giới tự nhiên, do trình độ sản xuất quyết định. Đây là một nguồn gốc xã hội của tôn giáo.

Nhờ hoàn thiện những phương tiện lao động và toàn bộ hệ thống sản xuất vật chất mà con người ngày càng nắm được lực lượng tự nhiên nhiều hơn, càng ít phụ thuộc một cách mù quáng vào nó, do đó dần dần khắc phục được một trong những nguồn gốc quan trọng của tôn giáo.

- Mối quan hệ giữa người và người: nguồn gốc xã hội của tôn giáo còn bao gồm cả phạm vi các mối quan hệ giữa con người với nhau, nghĩa là bao gồm các mối quan hệ xã hội, trong đó có hai yếu tố giữ vai trò quyết định là tính tự phát của sự phát triển xã hội và ách áp bức giai cấp cùng chế độ người bóc lột người.

Trong tất cả các hình thái kinh tế - xã hội trước hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, những mối quan hệ xã hội đã phát triển một cách tự phát. Những quy luật phát triển của xã hội biểu hiện như là những lực lượng mù quáng, trói buộc con người và ảnh hưởng quyết định đến số phận của họ. Những lực lượng đó trong ý thức con người được thần thánh hoá và mang hình thức của những lực lượng siêu nhiên. Đây là một trong những nguồn gốc xã hội chủ yếu của tôn giáo.

Trong các xã hội có đối kháng giai cấp, sự áp bức giai cấp, chế độ bóc lột là một nhân tố quan trọng làm nảy sinh tôn giáo.

Người nô lệ, người nông nô, người vô sản mất tự do không phải chỉ là sự tác động của lực lượng xã hội mù quáng mà họ không thể kiểm soát được, mà còn bị bần cùng cả về mặt kinh tế, bị áp bức cả về mặt chính trị, bị tước đoạt những phương tiện và khả năng phát triển tinh thần. Quần chúng không thể tìm ra lối thoát hiện thực khỏi sự kìm kẹp và áp bức trên trái đất, nhưng họ đã tìm ra lối thoát đó ở trên trời, ở thế giới bên kia.

b. Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo

Để giải thích nguồn gốc nhận thức của tôn giáo cần phải làm rõ lịch sử nhận thức và các đặc điểm của quá trình nhận thức dẫn đến việc hình thành quan niệm tôn giáo.

DỰ BÁO...

Lâm Trực

Nắng mưa là việc của giời
Chúng tôi dự báo tạm thời thế thôi

Đương ngồi thẩm ru với món bánh cuốn Thanh Trì buổi sáng thì trời sầm sập đổ mưa to. Nhà hàng mặt dài như bơm vì ô che thì thủng lỗ chỗ, nước bắn tung tóe, kiểu này khách nó dí vào thèm ngồi ăn nữa thì lỗ vốn :D . 
Một bà già đương chén món bún chả bảo: thế mà đài, tv báo là trời nắng to!. Chủ quán chạy ra ngửa mặt lên giời ngó 1 hồi rồi vào báo: mây thấp lắm, kiểu này mưa to. Hĩ hĩ, dự báo giỏi vãi đái, chả đang mưa to đấy thôi. Bà già bún chả bảo tiếp: “chiều qua đàng đông có cầu vồng, trong khi đàng tây mây đen sì, như vậy là: vồng đông, mống tây/3 ngày thì lụt. Ấy thế mà đài báo tv vẫn báo hôm nay nắng to, trong khi trời thì đang mưa kia, không hiểu thế nào..”. Mẹ, chả nhẽ lại bảo với cụ già là bọn đài báo tv ngu bỏ mẹ, có biết cái mẹ gì đâu, toàn bốc shit của bọn khí tượng thủy văn lên trộn với tí áo dài, ca la vat của mấy con/thằng tốt nghiệp hẳn từ cái gọi là báo chí tuyên truyền gì đó ra nhá, khua môi mua mép kiếm tiền đổ vào mồm chứ chúng nó quan tâm chó gì mưa hay không mưa. Có ai chửi chúng thì chúng lại bảo chúng đéo chịu trách nhiệm gì vì có phải chúng nghĩ ra đéo đâu. TSB bọn kền kền ăn xác chết. hĩ hĩ.
Tuy nhiên, anh đang ngâm cứu câu dự báo của bà già bún chả: “vồng đông, mống tây/3 ngày thì lụt”. Mẹ, anh nghĩ có khi chuẩn, đàng tây luôn đen kịt mấy ngày nay rồi, chắc mưa nguồn hoành tráng. Mẹ, quên bố nó mất không ra sông Hồng đo phát xem đã lên quá mức báo động 3 chưa nhể.
Lọ mọ trên mạng 1 tí, Google cho anh 1 lô những dự báo sau đây, anh nghĩ là đúng vãi đái, xác suất đúng mẹ nó là 100%, từ dự báo dài ngày (3 ngày trở ra) cho tới dự báo khẩn cấp (5h trở lại). Như vậy thì nhân dân ta cần chó gì bọn dự báo thời tiết nữa. Và tất nhiên đéo cần phải xem tv, đọc báo, hay nghe đài về món dự báo thời tiết này, kể cả những đống shit khác mà bọn báo chí truyền hình, truyền thanh đương bôi đầy khắp các public media.
Sau đây là hệ thống dự báo truyền thống của người Việt cổ cận đại, rõ ràng tiên tiến hơn rất nhiều hệ thống dự báo “hiện đại, có yếu tố nước ngoài” của người Việt hiện nay. Mk, việc gì phải giải phương trình bậc 2 mới lại cái bổ đề bổ đeo gì đó? Nhà trường và bọn phụ huynh thần kinh đạp đổ cổng trường hãy dạy những thứ như dưới đây thì anh sẽ có hi vọng 1 ngày không xa nước ta sẽ sánh vai với các cường cuốc 5 châu. hĩ hĩ.
—–

DỰ BÁO THỜI TIẾT
 THÔNG QUA CA DAO, TỤC NGỮ VIỆT NAM

1. CÁC LOÀI VẬT

CON KIẾN
- Kiến dọn tổ thời mưa.
- Kiến đen tha trứng lên cao
Thế nào cũng có mưa rào rất to.
- Tháng bảy kiến bò chỉ lo lại lụt.
- Tháng bảy kiến đàn, đại hàn hồng thủy.
- Kiến cánh vỡ tổ bay ra, bão táp mưa sa gần tới.

CON CHUỒN CHUỒN
- Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão.
- Chuồn chuồn bay thấp thì mưa
Bay cao thì nắng bay vừa thì râm.

CON GÀ
Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa.

CON ÉN
Én bay thấp mưa ngập bờ ao,
Én bay cao mưa rào lại tạnh.

CON CHÓ
Sầm Đông, sáng Bắc, tía Tây,
Chó đen ăn cỏ, trời này thì mưa.

CON ẾCH – CÓC
- Ếch kêu uôm uôm, ao chuôm đầy nước.
- Cóc nghiến răng, đang nắng thì mưa.

CON SẾU
Gió bấc hiu hiu, sếu kêu thì rét.

CON QỤA – CON SÁO
Qụa tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa.

2. BẰNG MẶT TRỜI – MẶT TRĂNG
- Mặt trời có quầng thì hạn,
Mặt trăng có tán thì mưa.
- Trăng quầng thì hạn, Trăng tán thì mưa.

3. BẰNG SAO
- Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa.
- Đêm trời tang (trời u ám), trăng sao không tỏ
Ấy là điềm mưa gió tới nơi.
Đêm nào sao sáng xanh trời,
Ấy là nắng ráo yên vui suốt ngày.

4. GIÓ
- Mùa nực gió Đông thì đồng đầy nước.
- Tháng sáu heo may, chẳng mưa thì bão.
- Cơn đằng Đông vừa trông vừa chạy
Cơn đằng Tây vừa cày vừa ăn.
Cơn đằng Nam vừa làm vừa chơi.
Cơn đằng Bắc đổ thóc ra phơi (hoặc cơn đằng Bắc lắc rắc vài hột).

5. CHỚP
- Chớp thừng chớp chão, chẳng bão thì mưa.
- Chớp đằng Đông, mua dây mà tát.

6. BẰNG MÂY
- Mây kéo xuống biển thì nắng chang chang,
Mây kéo lên ngàn thì mưa như trút.
- Vàng mây thời gío, đỏ mây thời mưa.
- Mây xanh thì nắng, mấy trắng thì mưa.
- Thâm Đông, hồng Tây, dựng mây;
Ai ơi! Ở lại ba ngày hãy đi.

7. MỐNG (cầu vồng)
- Mống cao gió táp, mống áp mưa rào.
- Mống cao gió táp, mống rạp mưa dầm.
- Mống đông vồng tây,
Chẳng mưa dây cũng bão giật.
- Mống vàng thì nắng, mống trắng thì mưa.
- Mống dài trời lụt, mống cụt trời mưa.
- Vồng chiều mưa sáng, ráng chiều mưa hôm.
- Vồng rạp mưa rào, vồng cao gió táp.



CHUYỆN VỢ CHỒNG HÀNG XÓM


Mịa, đều như vắt chanh, ngày nào cũng như ngày nào, hễ về đến nhà là lại nghe tiễng cãi chửi nhau ỏm củ tỏi của vợ chồng nhà hàng xóm.

Hôm nay, vừa đi tập thể dục thể thao về đến cửa nhà thì thấy 2 vợ chồng nhà hàng xóm đã ầm oàng, loảng xoảng chửi nhau. Chúng chửi nhau bàng cả mồm miệng lân chân tay, cũng tiếng gió rít lên giận dữ. Cứ chồng 1 câu vợ lại 1 câu, thi thoảng có tiếng đứa con gái chen vào một câu. Thằng chồng thì ông ổng như chó điên mùa hạ, con vợ thì the thé như Diva già mất giọng khi trời nồm. 

Tài thật! Mới có 7h kém 15 phút sáng chứ mấy! Chửi nhau kiểu này gọi là tập hít thở và tập cơ mặt buổi sáng, đéo tốn tí calo nào mà lại hiệu quả cao. Nhể?

Cả cái khu anh ở, ai cũng khen nhà háng xòm này được cái chăm chửi nhau. Nếu ngày nào mà không nghe thấy chúng chửi nhau thì thật, anh ăn thấy không ngon, ngủ cũng không say lắm. Nhiều khi cứ cầu chúng nó chửi sớm lên đi để mình ăn cho ngon miệng rồi còn đi ngủ.

Anh vẫn thường xuyên tự hỏi là đéo hiểu sao chúng nó lắm chuyện để chửi nhau thế nhể? Có hôm gặp thằng lợn chồng ở trong thang máy, mặt nó hầm hầm nặng chình chịch, nó tuôn ra 1 tràng nào là con nó đã về quê chơi, gọi điện không nghe, bảo lên với bố mẹ không lên, lâu lâu không quát chửi gì nó cũng thấy nhớ nhớ. 

Thế đấy, chả nhẽ anh lại bẩu hay sáng nào tao cũng ngó qua nhà mày chửi cho mày 1 trận cho mày sướng lỗ tai? Con vợ thằng này cũng lạ. Có hôm đương chửi nhau xoen xoét với thằng chồng, có thằng hàng xóm nào đó bấm chuông hỏi về chuyệnn học hành gì đó, ấy vậy mà đang rít lên như con thần kinh nó chuyển tông sang giọng thỏ thẻ oanh vàng ngọt như mía lùi được ngay. 

Đéo hiểu thằng chồng trong nhà nghĩ giè nữa Háng xòm vừa về chưa được 2 bước chân nó đã quay vào chiến tiếp với thằng chồng. Tài tình đéo tả.

Hôm nay đếch biết chúng nó chửi nhau những gì nữa. Anh mở cửa và bật TV lên xem và nghe tiếng lước ngoài cho nó văn minh, đéo đâu cứ phải nghe tiếng đinh nạm bọn kia sủa ra điếc mẹ hết cả đít. Tuy nhiên, đang xem TV đột nhiên anh thấy thằng chồng sủa lên ổng ổng: lúc nào cũng tiền, tiền, tại sao lúc nào cũng chỉ nghĩ đến tiền. Hơ hơ, hóa ra hôm nay chúng cãi nhau vì tiền, chắc con vợ lại đòi tiền… Đéo thấy con vợ nói gì.. Anh định thò cổ sang bảo thằng chồng rằng: Mk, ngày nào mày cũng phịch con vợ mày, định phịch chùa à mà đéo giả tiền, chưa kể nó còn phải chịu làm vợ mày, giá dư thế là khá đắt đấy thằng lợn ạ. hĩ hĩ.

Đéo biết chiều tối nay chúng sẽ chửi nhau về cái gì? Chắc lại thằng nào rửa bát, thằng nào nấu cơm. Ấy thế dưng nhà này lạ, sáng chửi nhau, chiều chửi nhau nhưng tối thằng chồng vẫn cởi trần tưới cây, con vợ vẫn dắt chó đi ỉa, thằng con bạc con vàng vẫn rong ruổi trên con đường đề lô... và rồi sáng hôm sau chúng lại đại chiến. hã hã.

Thứ Tư, 29 tháng 8, 2012

CHỬI BẬY


Từ ngày quen con dở hơi Háu ăn, mình cũng biết chửi bậy (nó cứ tự hào mãi là đã đào tạo được mình chửi bậy. Nhưng cũng chỉ thi thoảng thôi, và chỉ “viết bậy” chứ không “nói bậy”. Đơn giản là vì viết bậy thì vui bàn phím, nhưng nói bậy thì ngượng mồm.

Không rõ phim Việt bây giờ ra sao, lâu rồi không xem, nhưng mình nhớ ngày xưa ít khi thấy người ta chửi bậy trên phim, cùng lắm thì cũng chỉ một hai câu ĐM mày. Thế mà ra đường thì từ người lớn đến trẻ em, ai ai cũng biết nói bậy. Phát kinh!

Bây giờ có con rồi, mình lại càng dị ứng với cảnh người lớn cứ thoải mái chửi bậy trước mặt trẻ em. Mỗi lần thấy cảnh đấy là máu nóng lại dồn lền tận đầu, chỉ muốn tát vỡ mồm thằng nói bậy. Tất nhiên là chỉ tưởng tượng ra cảnh mình được đánh nó thôi, chứ ai dám đánh thật. Tuổi già, sức yếu, bị đánh lại thì đỡ sao được .

Ấy thế mà hôm qua đọc bài báo gì về Trần Tiến và vài phát ngôn gây sốc trên BNHV. Mình cũng không rõ chi tiết thế nào, đại loại là anh TT tiện mồm nhận xét mấy câu về mông với ngực, vậy mà thấy dân tình xúm vào chê bai là thiếu (vô) văn hóa thế nọ thế kia. Đúng là lũ văn hóa giả tạo. Không biết cái lũ mạnh mồm ý, đã bao giờ dám bảo người xung quanh mình bớt chửi bậy đi chưa nhỉ??? Nói đến đây mình cũng muốn chửi bậy lắm rồi .

Ngày trước mình có lão sếp, cứ mở mồm ra là lão ý F nọ, F kia, câu nào cũng phải đệm vài từ. Một hôm ngứa tai và ngứa mồm mình cũng tuôn ra một loạt F nọ, F kia với lão ý. Lão há hốc mồm, một lúc mới thỏ thẻ bảo: nếu là ở mỹ thì mày bị đuổi ngay lập tức rồi đấy!. Và từ đấy lão ý không bao giờ F cái thổi tả gì trước mặt mình nữa.

ĐÚNG LÀ...ĐÀN ÔNG


Gọi điện cho thằng bạn, nghe giọng có vẻ không phải là nó, mình hỏi: hôm nay bị vợ mắng à? Nó cười hehe, gọi mình là cảnh sát trưởng!

Nó kể; đang nhắn tin với gái thì ngủ quên, thế là bị vợ phát hiện. Tưởng đời nó vậy là tàn, nó bảo ngược lại thì có, sướng như tiên. Mình hỏi thế vợ mày không bắt giải thích à? Không làm ầm lên à? Nó bảo có, nhưng việc gì phải giải thích! Tao chỉ bảo: anh mệt lắm, đừng có ghen với mấy tin nhắn vớ vẩn ấy! Giải thích lằng nhằng quá bằng tự thú!

Không biết nó vớ vẩn, gái vớ vẩn hay tin nhắn vớ vẩn!

Chợt nhớ kinh nghiệm xương máu với thằng bạn CŨ chỉ vì mấy tin nhắn-thật-sự-vớ-vẩn. Nó là thằng vô cùng nhiệt tình với bạn bè. Mình với nó chơi với nhau lâu rồi và cũng thân. Và nhà gần nhau nữa nên mình với nó hay bù khú, ăn uống la cà quán xá. Rồi nó lấy vợ. Thi thoảng nó vẫn nhắn tin cho mình, rủ đi chơi, dù thực chất chả đi đâu hết vì nó đi công tác.

Rồi vào một ngày đẹp trời, mình nhắn tin rủ nó đi uống nước mía, lúc ý là nửa đêm và mình đang ngồi với con em còn nó lại đang đi công tác!

Không hiểu cu này có gái gú bồ bịch ở đâu không mà nó bị vợ theo rõi. Mọi tin nhắn, điện thoại của nó đều bị bạn của vợ nó làm ở tổng đài vinaphone ghi lại hết. Và thế là sáng hôm sau mình bị vợ nó truy lùng. Mọi việc chỉ kết thúc khi chính nó gọi cho mình trước mặt vợ (là hình dung vậy); yêu cầu mình đừng nhắn tin hay gọi điện cho nó nữa.

Mình căm thù nó đã lấy mình ra làm tốt thí. Càng căm hơn vì từ ngày ấy đến giờ, 10 năm rồi nó chưa xin lỗi mình lấy một lần. Vì vậy mình gọi nó là bạn CŨ! (Ấy thế mà hôm trước mình về, nó còn gọi điện cho mình như chưa có chuyện gì xảy ra.)

Ngồi ngẫm một hồi, tự hỏi sao cả hai thằng đều cư xử giống nhau thế, mình chỉ có thể kết luận: vì chúng là đàn ông :d!

NHỚ BÃO


Nói ra thì nghe dở hơi, nhưng quả thật xem ảnh mưa bão mà tự dưng nhớ …bão! Thèm được nghe gió thổi ù ù, mưa quật sầm sập, nhìn đám cây cối tả tơi và ngửi mùi ẩm ướt trong không khí!

Nhớ những ngày trùm áo mưa, mặc quần đùi, phóng xe máy, chạy trong bão để đi làm! Ăn mặc thế cho khỏi ướt, nhưng khi đến trường bị lườm chết thôi, vui đáo để.

Ngày xưa ấy, mỗi lần mưa to bão lớn, đường cũng tắc-hơn-thường-ngày, cũng có vài con phố bị ngập nhưng hình như không ngập nhiều như bây giờ??? Hay chỉ là hồi ý chưa có lắm báo lá cải như bây giờ??? Chỉ nhớ là cái bọn trường Giao thông cứ trời mưa là bì bõm.

haizzz, giá mà bây giờ đang được ngồi đâu đó xem trời mưa và xem dân tình bì bõm nhỉ?

MỪNG

Lâm Trực

Tối nay đi đá bóng về nhà, vừa mở trang Báo mới chấm cơm ra, anh tưởng mình nhìn nhầm. Nhưng không, đó đích thị là tin mừng: Thí sinh đạp xe 300 km đi thi được đặc cách vào đại học

Cuối cùng thì ông Trời cũng có mắt. Cậu bé nghèo khó đã có cơ hội đổi đời và báo hiếu cha mẹ.

Ngày 29/8, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh ký quyết định tuyển bổ sung Ngô Văn Thuận - thí sinh đạp xe 300 km từ Nghệ An ra Hà Nội thi đại học vào trường Sĩ quan Tăng - Thiết giáp.

Đọc tin này hẳn không chỉ một mình anh mừng, mà chắc các bạn cũng mừng cho em.

Anh mừng vì nhiều nhẽ. Ý chí, công sức học tập của cậu bé đã được xã hội công nhận. 

Mừng vì ông Bộ trưởng Phùng Quang Thanh đã không bỏ phí một người như cậu. 

Mừng vì trên đường đi thi có nhiều người đã giúp cậu lúc đói khát. 

Và mừng nữa là những ngày đi thi cậu được một gia đình Công an thương tình, đưa về nhà cho ăn uống và cho tiền về quê. 
Hãy đọc link sau: http://www.baomoi.com/Home/GiaoDuc/vnexpress.net/Thi-sinh-dap-xe-300-km-di-thi-duoc-dac-cach-vao-dai-hoc/9216664.epi

Xa hội ta, vẫn còn đó những người tốt.

Thật mừng phải không các bạn?

PHÓNG VIÊN LOẠI GÌ ĐÂY?


Thằng phóng viên ngu si đần độn đéo-bao-giờ-thi-đại-học của bọn lá cải Tàu Nhanh viết thế này: “Khác với môn Toán, chiều nay, tại điểm thi trường chuyên Phan Bội Châu, hầu như không có thí sinh nào ra khỏi phòng thi trước khi hết giờ làm bài. 16h10 mới có một tốp thí sinh đầu tiên ra khỏi cổng trường với vẻ mặt khá thoải mái”. 

Link đây: 
http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/giao-duc/2012/07/de-ly-dai-nhieu-thi-sinh-kem-vui/

Cầu trời cho mấy thằng pv ngu độn này chết mẹ hết đi cho xã hội thanh bình. Thi trắc nghiệm thì chả có đứa nào được ra khỏi phòng thi trước khi hết giờ cả mấy con lợn ạ. Chúng mày ăn gì? Hay là chưa bao giờ đi thi đại học hả? Bằng cấp của chúng mày là bằng mua hả? Mk bố mày chụp màn hình rồi. Để tí bố post cả ảnh chụp màn hình lên cho chúng mày chết mẹ chúng mày đi. 

Ngu vãi.

COI THI

LâmTrự[email protected]

Hàng năm, cứ đến hẹn lại lên, vào mùa tuyển sinh ĐH và CĐ là lạo run. Run không phải vì lười mà vì sợ. Hầu hết anh chị em cùng cơ quan, chỉ mới nghe thấy hai từ coi thi là đã vãi...Anh quan niệm, coi thi là nghề nguy hiểm nhất trong điều kiện hiện nay.
Năm nay vẫn không thể thoát được, bị tóm cổ đi coi thi. Bụng bảo dạ, đời lại nhục như con trùng trục. Ngửa mặt lên giời hỏi tại sao khổ thể thì được giả nhời: nhiệm vụ chính trị, phải làm, không được chối, hiểu chửa. Ôi vãi hết cả hà vì món nhiệm vụ chính trị này!!!!!
Để chuẩn bị coi thi thì bao giờ cũng lại đi tập huấn. 
Tập huấn nghĩa là gì? Nghĩa là ngồi nghe 1 ai đó đọc các thể loại gì đó, mà đã được in cụ tỉ trong 1 cuốn cẩm nang nào đó… Cuối cùng đại khái là đến ngày coi thi sẽ được phát 1 cái cẩm nang, hay còn gọi là bí kíp coi thi, để nhỡ quên đoạn nào thì giở ra xem. Ôi, cứ như diễn viên phim chưởng rơi vào cái hang nào rồi vớ được bí kíp, đọc vài câu vươn vai thế là thành mẹ nó độc cô cầu bại nhở. hĩ hĩ.
Năm nay trong phần bí kíp có thêm nội dụng cấm thí sinh mang các thiết bị quay phim như bút, như xyz gì đó vào phòng thi. Ôi, rõ ràng hiển nhiên, năm nào chả thế, cứ mang cái gì mà có tí ghi âm, truyền hình thì đương nhiên lập biên bản đuổi thẳng cổ chứ sao. hĩ hĩ. 
Còn nhớ năm kia năm kìa gì đó, vào phòng thi, đã dặn khản cổ với thí sinh rằng thì là mà phải tắt điện thoại, thậm chí còn ghi hẳn lên bảng to tướng kèm lời dọa dẫm rằng sẽ bị lập biên bản, đình chỉ thi, ấy thế mà có con nhợn vẫn cứ như điếc như mù chấp nhận hình phạt đình chỉ. Lạ không chịu được. Không hiểu 12 năm chúng tiến hóa từ người thành nhợn như nào, có gian nan vất vả lắm không? .
Quay trở lại việc cấm. Vì sao bí kiếp lại thêm 1 dòng thừa như vậy. Chỉ vì các sếp sợ nhỡ xảy ra vụ quay phim nào thì bỏ mẹ. Nhưng kể ra lo thế thì bằng thừa vì thí sinh nào làm trò mẹ gì là lộ ngay chứ ngồi được ở đó mà quay phim với chả chụp ảnh à?! Trừ phi giám thị chổng đít vào thí sinh thì đúng là nó muốn quay kiếc gì chả được. hĩ hĩ.
Có khi bọn nữ sinh ngang nhiên mặc váy, viết vẽ lên đùi ti tỉ thứ công thức công theo, các đoạn gợi ý. Giám thi mò xuống đến nơi nó kéo xuống che hết, lại còn giở mặt cười tủm. Bố khỉ. 
Cao thủ hơn cả võ lâm truyền kì, bọn nhợn cái còn nhét ruột mèo trong áo nịt ngực, giám thị đi lên thì kéo ra, giám thị đi xuống thì chúng nhét vào,mặt tỉnh bơ. Có lẽ chúng nắm pháp luật khá vững, anh em biết vậy mà không làm gì được. Rõ khổ. Có anh em có ý kiến là gặp trường hợp trên, mỗi giám thị nên có một đôi đũa để gắp ruột mèo từ trong áo của bọn nhợn cái. hã hã.
Nhưng có 1 điều là trời lại mưa, lại mát vãi. Chả biết đến mấy ngày coi thi thì thế nào. Thà nóng còn đỡ chứ mát mát hiu hiu lành lạnh thì nhục, cả giám thị lẫn thí sinh y hệt bọn nghiện thuốc. Có phòng thi thí sinh ngủ khò khò gần nửa phòng, đuổi ra thì không được vì qui chế không cho phép.
Cái sợ nhất của anh coi thi là nhỡ có chuyện gì xảy ra, thì lẽ dĩ tất ngẫu, mọi chuyện đều là lỗi của  giám thị. Hai từ kỷ luật là hiện hữu. Mà đã bị kỷ luật hị nhục hết chỗ nói, năm nào cũng đem ra là ví dụ để răn đe, vượt trên ngăn chặn.
Tóm lại là thảm văn hại. Và tổ sư, không hiểu tại sao bọn trường tư thì được xét tuyển trong khi bọn trường công thì cứ phải thi tuyển là thế nào nhỉ?